BỨC ẢNH TƯỚNG LOAN XỬ BẮN TÊN KHỦNG BỐ "7 LỐP" - VIỆT CỘNG SỢ SỰ THẬT VÌ ÁC QUỶ SỢ ÁNH SÁNG

Huỳnh Quốc Huy 

CÂU CHUYỆN CUỐI TUẦN:

Không phải ngẫu nhiên, hôm nay báo chí Việt cộng tung ra loạt bài viết và hình ảnh về vụ Tướng Loan - Tư lệnh cảnh sát QG (Đô thành Saigon) xử bắn tên khủng bố Nam cộng biệt danh "7 Lốp", ngay trước ống kính báo chí.
Bối cảnh vụ việc (xem ảnh) này là ngày 1/2/1968, khi đám Nam cộng tuân lệnh bọn Bắc cộng, tổ chức cuộc "tổng tấn công nổi dậy Mậu Thân", thực chất là tổng giết người, cướp của, đốt nhà, đặt mìn, ám sát, chặt đầu, đập đầu, moi ruột, chôn sống tập thể dân lành miền Nam... ngay trong Tết truyền thống thiêng liêng của dân tộc.
Trước khi bị bắt và bị bắn vỡ đầu chết tươi giữa phố Saigon, tên khủng bố Việt cộng 7 Lốp đã thực hiện hàng loạt vụ giết dân thường, trong đó hắn lạnh lùng xuống tay giết chết cả một gia đình gồm phụ nữ và 2 đứa trẻ mới vài tuổi... Hành động của hắn là khủng bố, diệt chủng, chống lại loài người. Hắn không phải là một quân nhân (không mặc sắc phục) đang cầm súng chiến đấu để được đối xử theo công ước chống tra tấn tù nhân chiến tranh (thứ mà Việt cộng chẳng bao giờ tuân thủ, nhứt là sau 1975)... Hắn giết người theo đúng cách mà bọn Hồi giáo cực đoan ISIS đã và đang làm. Thậm chí còn theo cách man rợ hơn...
Nhưng, rất đáng ngạc nhiên, dư luận và báo chí, đám trí thức phản chiến thiên TẢ từ Tây sang ta, từ 1960s đến tận ngày nay... vẫn cứ lên án việc tướng Loan bắn chết tên khủng bố diệt chủng ấy ngay tại chỗ. Những "đạo đức gia" THIÊN TẢ ấy đòi tướng Loan và Cảnh sát QG phải lập toà án và xử tội hắn như một công dân, theo pháp luật. Trong khi... hắn là một CON QUỶ. Đòi con người đối xử với QUỶ một cách tử tế và nhân đạo... quý vị có ngây thơ hay cố tình ngây thơ?!
Có cần nhắc nhở nhau điều cũ rích và cả TG này đều biết rồi: Cộng sản là QUỶ SATAN ĐỎ.
Thưa các "đạo đức gia"!?!?!
Nói thêm với quý vị.
Có một sự thật khác nữa, trong suốt cuộc chiến tranh Việt Nam:
Phe Việt cộng nửa đêm xách súng và mã tấu vào nhà người dân (nhứt là những vùng "cài răng lược" như Vùng 4 quê tui), đưa ra 2 tờ giấy:
1. Giấy tình nguyện hiến tặng và quyên góp cho cách mạng.
2. Bảng án tử hình các thành phần phản cách mạng, chừa trống chỗ "họ tên"...
Dân sợ quá, chịu ký tờ (1), chúng nó sẽ cho lục soát và vơ vét hết tiền, vàng, lúa gạo rồi chở vào rừng rú hang hốc - gọi mỹ miều là "căn cứ kháng chiến cách mạng", để nuôi đám khủng bố... Nhưng sau đó, dân sẽ sống nơm nớp lo sợ Cảnh sát QG phát hiện tội "nuôi chứa Việt cộng"; không thì tụi Việt cộng cũng điếm đàng quen thói, vài tháng lại quay lại đòi "quyên góp cho cách mạng" tiếp... Ăn ngủ không yên với bọn Việt cộng - "ông tổ ISIS" này, chứ sướng ích gì?!
Còn thí tỉ như nhà nào ghét cộng, hoặc tiếc của tiếc tiền mồ hôi nước mắt... không chịu ký tờ (1), chúng liền ra tay giết cả nhà lớn nhỏ, chặt đầu gắn lên cọc tre, móc mắt nhét vào hai cục đất, móc ruột treo loòng thoòng..., rồi đem cắm mấy cây cọc tre kinh tởm máu me ấy dọc ngoài đường... kèm theo bản án (2) để thị uy, đe doạ, khủng bố tinh thần những người dân miền Nam hiền lành.
Đêm sau, chúng lại xông vào nhà người khác.
Cứ vậy... cái gọi là "cách mạng" của Việt cộng không ngừng mở rộng trong lòng miền Nam đau thương quê tui. Thưa các "đạo đức gia"!
(Các vị có muốn sống lại những ngày ấy và đối xử nhân đạo với bọn quỷ ấy không? Thử đi cho biết mùi...).
Và vì vậy, trở lại vụ Tướng Loan, hơn ai hết ông biết bọn Việt cộng là QUỶ, là khủng bố, là diệt chủng, là tội ác chống lại loài người. Trách nhiệm cao nhứt của người lãnh đạo Cảnh sát bảo an Quốc gia, trong cơn khói lửa giết chóc điên cuồng của QUỶ... gặp chúng là bắn bỏ là phước của dân lành. Thậm chí bắn bỏ như vậy còn không kịp ngăn chặn cơn cuồng sát tấn công vào dân lành của chúng; chớ đối xử với QUỶ nhân đạo như với con người, chờ toà án "xét xử theo pháp luật"... dân lành sống nổi với tụi nó sao các "đạo đức gia"?
Cuộc chiến giữa người dân Việt với Cộng sản là cuộc chiến SINH TỬ, giữa một bên là NGƯỜI và một bên là QUỶ SATAN ĐỎ. Nhận diện sai lầm bản chất cuộc chiến ấy (khiến Quân Cán Chánh VNCH luôn nhân đạo với QUỶ) chính là nguyên nhân của mọi nguyên nhân dẫn đến thảm hoạ mất nước của VNCH - sụp đổ nền tự do xán lạn của Miền Nam thanh bình.
Công lý ở đâu giữa cuộc chiến SINH TỬ giữa NGƯỜI vs QUỶ ?!?!
=> Xin thưa: ở NÒNG SÚNG.
Tóm lại,
Dân tộc nào nhận thức rõ và quyết liệt chống trả, bài trừ, tiêu diệt mầm mống cộng sản ngay từ khi nó nhen nhóm ở quốc gia mình... ngày nay dân tộc ấy có văn minh và cường thịnh.
Nếu anh sinh viên cánh Hữu - Otoya (17 tuổi) người Nhật - không điên tiết đạp lên các lý thuyết "đạo đức gia" rởm đời, nhanh chóng rút kiếm đâm chết tươi tên Tổng bí thư đảng Cộng sản đầu tiên và duy nhứt tuyên bố "Hoa kỳ là kẻ thù chung của Trung Quốc và Nhật Bản", ngay khi ông này đăng đàn diễn thuyết kêu gọi thanh niên "tiến theo ánh sáng soi đường của đảng"... ngày nay TG làm gì có nước Nhật Bản hùng mạnh và văn minh thế kia?! (Dưới sự lãnh đạo toàn diện của đảng cộng sản Nhật, giỏi lắm thì nước CHXHCN Nhật Bản cũng chỉ được nhắc đến bằng sự kỳ thị, dè bĩu, khinh ghét... vì những hành vi mọi rợ và súc sinh cỡ CHDCND Trung Hoa là cùng).
Nếu Indonesia không có gia đình độc tài Shu-hat-to, ra lệnh "thanh trừng" dẫn đến xung đột và giết triệu người Hoa (thân Trung cộng)... thì ngày nay, đảng Cộng sản Indo có thể sẽ là đảng lãnh đạo toàn diện, dẫn dắt toàn dân Indo "xuống hố cả nút" như CHXHCN Việt Nam là cùng.
Nếu Hoàng gia của Thailand hay thủ tướng nhìn xa trông rộng Lý Quang Diệu của Singapore không kiên định chính sách "KHÔNG CỘNG SẢN"... lá cờ máu đỏ 6-7 sao vàng và cờ "búa liềm" sẽ bay rợp trời Bangkok và cảng Singapore Cruise Centre, toàn dân toàn quân của họ sẽ "bạn tốt bạn vàng - đời đời gắn bó" với Trung Quốc... với hàng ngàn dự án công nghiệp khói đen kịt, sông suối bãi biển nước đen ngòm, dân tình tha hồ bệnh tật quái thai ung thư ngoặt ngoẹo... Một ngày nào đó, theo những mật ước giữa các đảng cộng sản "anh em trong nhà" của họ, Thailand và Singapore sẽ cùng Vietnam.. sáp nhập vào China để trở thành "Quốc gia mạnh thứ nhì TG".
(Nghe thấy bắt ham...).
Và, năm thứ 17 của TK21 rồi mà Dân tộc nào còn đầy trí thức "đạo đức gia", ngây thơ và "thiên tả"... con cháu của dân tộc ấy sẽ còn chuốc hoạ dài dài với QUỶ SATAN ĐỎ.
Tin hay không thì tuỳ.
HQH
---
Dành cho các bạn trẻ, Link bài viết gốc (tiếng Anh) TOÀN BỘ SỰ THẬT trên trang Fb chị Bao Chau Kelley , ở đây:
https://www.facebook.com/chau.kelley/posts/1672616966106294

Read more…

NÓI VỚI DƯ LUẬN VIÊN

Nguyen Hoang Phuc

Thưa cộng đồng Facebookers: Nếu khinh ghét bọn văn nô bồi bút một thì tôi còn khinh ghét bọn dư luận viên, nhất là DLV cao cấp cả trăm, thậm chí cả ngàn lần. Và sau đây là mấy lời dành cho bọn DLV, xin các friends hãy share cho nhiều người biết để may ra có thể đánh động được lương tri của bọn DLV chăng.
Trước đây tôi tưởng DLV cũng là kẻ không đến nỗi nào, ít ra là nhân cách cũng tương xứng với mớ chữ nghĩa mà đã nhồi nhét được vào đầu. Nhưng hóa ra không phải. Sau khi dùng những biện pháp bỉ ổi để có số má trong giang hồ, liền biến thành một kẻ mà chỉ nghe nói tới thôi là mọi người đã muốn nhổ nước miếng vào mặt rồi: DƯ LUẬN VIÊN.
Có biết vì sao người ta lại khinh ghét DLV không? Nếu chưa biết thì tôi nói cho biết: Chính quyền đã có 700-800 cơ quan ngôn luận (báo giấy, báo nói, báo hình, báo mạng) và cả chục ngàn bọn văn nô bồi bút, khi cần họ sẽ sử dụng những người đó, đấy là những người ngang nhiên hành quân trên đường cái, còn DLV và bạn bè DLV của bọn mày chỉ là mấy con chó đánh hơi trong bụi rậm mà thôi.
Tôi nghĩ rằng với kiến thức của DLV, hai ba chục triệu đồng, thậm chí năm bảy ngàn đô đối với DLV không phải là việc quá khó, tại sao lại đi liếm đít cho bọn có chức có quyền chỉ vài bát cơm thiu mấy thìa canh cặn như thế? Nếu bọn mày không thấy xấu hổ với thầy với bạn thì ít ra cũng nên xấu hổ với lương tâm. Qua việc này, những người hiểu biết càng thấy rằng những kẻ mà bọn DLV bảo vệ hay ca ngợi chỉ là những tên đồ tể, không hơn không kém. Một mai đây người dân nhận ra được chuyện đó, mỗi người chỉ nhổ cho một bãi nước bọt là bọn mày đã đủ chết đuối rồi. Nhớ lấy nha!
Người xưa nói: Cáo chết ba năm quay đầu về núi, quạ đi lại về quê cũ, cầm thú còn thế huống chi là con người. Bọn DLV và các bạn của mày hãy mau tỉnh ngộ, trước khi quá muộn.
Tái bút: Nếu tôi còn thấy những DLV mà tôi ám chỉ ở đây còn xuất hiện trên facebook thì mỗi tuần tôi sẽ post lại STT này 1 lần vào đúng sáng thứ hai đầu tuần.

Read more…

Một năm sau đảo chánh không thành, Thổ Nhĩ Kỳ sa thải 7,400 người


Tổng Thống Thổ Nhĩ Kỳ Recep Tayyip Erdogan tại lễ kỷ niệm 1 năm xảy ra đảo chánh bất thành (Hình: AP)
ANKARA, Thổ Nhĩ Kỳ (NV) – Chính phủ Thổ Nhĩ Kỳ hôm Thứ Bảy đánh dấu một năm ngày xảy ra cuộc đảo chánh bất thành của quân đội bằng cách sa thải 7,400 người thuộc giới cảnh sát, quân đội, công chức cũng như các thành phần khác.
Trước đây, chính phủ Thổ Nhĩ Kỳ đã sa thải hơn 100,000 người và khoảng 50,000 người khác thuộc các thành phần cảnh sát, quân đội, tư pháp, giáo dục và truyền thông bị bắt giam, theo bản tin UPI.
Trong số những người vừa bị cho nghỉ việc có 2,303 cảnh sát viên, 1,486 nhân viên bộ nội vụ, 546 quân nhân không và hải quân, 418 công chức bộ tư pháp, 789 thuộc bộ y tế, 551 thuộc bộ tôn giáo, 302 thuộc các trường đại học và 102 thuộc bộ giáo dục, cũng theo UPI.
Có khoảng 250 người thiệt mạng và hơn 2,000 người khác bị thương khi một nhóm sĩ quan quân đội tổ chức đảo chánh để lật đổ chính phủ của Tổng Thống Recep Tayyip Erdogan. Có 35 người thuộc phía đảo chánh cũng bị thiệt mạng.
Ông Erdogan nói rằng cuộc đảo chánh do một giáo sĩ Hồi Giáo, Fethullah Gulen chỉ huy. Ông Gulen, sống lưu vong ở Mỹ từ gần hai thập niên nay, bác bỏ cáo buộc này, bản tin UPI cho biết. (V.Giang)
Read more…

Con cái nhà ai?


Tạp chi Huy Phương
Quan bán chổi để xây... biệt thự. (Hình minh họa: Báo Tuổi Trẻ Cười)
Nếu sinh ra và lớn lên ở một quận lỵ hay thành phố nhỏ, hẳn bạn nhớ hết những con đường, những ngôi nhà và đôi khi cả một vài cây cổ thụ cho bạn bóng im thời trẻ hay những bờ sông tắm mát những trưa hè. Và lẽ cố nhiên bạn cũng nhớ đến một vài nhân vật đặc biệt như một ông cụ râu dài hay một người đàn bà điên trong thành phố. Sau này lớn lên rồi, tha phương, nhưng những con người trong một thành phố cũ của một thời xa xưa vẫn còn như hiển hiện trong trí nhớ.
Những nhân vật ngày xưa được nhớ lại, không chỉ là những nơi ăn chốn ở, mà cả sinh hoạt tính tình, cả đến con cái nhà ai, cha mẹ làm nghề gì, có gì đặc biệt. Bây giờ khi kể chuyện một người xưa, qua câu chuyện người ta còn nhớ đến cô kia là con ông chủ tiệm thuốc Bắc, cậu nọ gia đình là một chủ tiệm vàng. Giàu nghèo, xuất thân từ một gia đình như thế nào, đứa nào cũng mang theo một cái biệt hiệu cho đến lúc lớn lên, mặc dù răng bây giờ đã hết sún, tóc giờ này không còn “búp bê” nữa! Lũ trẻ mất dạy thì luôn luôn nhớ tên cha mẹ hay nghề nghiệp gia đình đứa khác, để lúc tức giận dễ bề chửi bới.
Tôi còn nhớ câu răn đe của ông bố: “Ra đường làm gì thì làm, đừng để chúng nó gọi tên cha mẹ lên mà chửi!” Tục ngữ chúng ta cũng có câu: “Thương cha chớ chọc ăn mày!” Nói chung, nếu biết thương cha mẹ thì ăn ở cho thuận hòa, đừng để ai làm tổn thương đến danh dự của gia đình, nghĩa là đem cha mẹ ra mà chửi. Nếu một nhân vật hư hỏng, người ta không gọi là thằng mất dạy mà còn gọi là “con nhà mất dạy!”
Ông bà ngày xưa cũng đã nói: “Lấy vợ xem tông, lấy chồng xem giống,” tức là phải tìm biết cái gốc gác ra sao. Gốc chẳng ra gì, thì ngọn không khá được, và tìm hiểu cái nề nếp, ngọn ngành của một con người luôn luôn là điều cần thiết. Chẳng thế mà “ra đi mẹ có dặn rằng, cam chua mua lấy, ngọt bồng chẳng ham!” Bà này kỳ thị, cho rằng cam chua dù sao đi nữa cũng là giống cam, ngọt lắm cũng là loại bồng vô giá trị!
Lấy lai lịch cha mẹ mà xét đoán tư cách của con là lối dùng người của cổ nhân. Chẳng thế mà chúng ta đã nghe giai thoại về cách dùng người của Tổng Thống Ngô Đình Diệm, mỗi khi phê chuẩn việc bổ nhiệm cho một cấp chỉ huy quan trọng, ông thường hỏi người đề nghị: “Thằng ni con cái nhà ai?” Nếu gia đình thằng ni là người có tiếng tăm, đạo đức thì hẳn hắn không ăn hối lộ, không làm điều xằng bậy, vì người đàng hoàng làm điều xằng bậy thì nhục tới cha ông.
Thời nay dùng người, đứng đắn nhất là dùng người có tài, trong chế độ vô đạo thì người ta dùng người trung thành, cùng băng đảng, trung thành và cùng băng đảng thì dễ sai khiến, và sẵn sàng bảo vệ quyền lợi chung. Cũng không cần biết đến gia thế, cha mẹ là ai, gốc gác từ đâu.
Ngày xưa trong cái thẻ căn cước, người ta ghi cả quê quán, tên cha tên mẹ. Ngày nay, đảng viên không còn nhớ tên cha mẹ đặt, dùng bí danh, ngụy trang gốc gác nên chẳng ai còn biết ai là ai. Bởi vậy chúng nói ngang nói ngược, tham ô, bóc lột, lấy của đất nước, giang sơn làm của riêng, chẳng hề sợ đến thanh danh của gia đình, cũng không ai biết mà chửi đến cha đến mẹ!
Trong Cổ Học Tinh Hoa có câu chuyện “Tiễn người đi làm quan,” nói rằng Tiết Tôn Nghĩa người Hà Đông sắp đi làm quan, ông Liễu Tôn Nguyên làm tiệc tiễn hành ở bờ sông, rót chén rượu mời Tôn Nghĩa và nói về nghĩa vụ làm quan:
“Giả thử ta đây thuê một người làm việc trong nhà, nó đã lấy tiền thuê mà lười không làm việc, lại còn ăn cắp đồ thập vật trong nhà, thì tất ta phải giận mà trách phạt nó và đuổi nó đi. Bây giờ kẻ làm quan như thế quá nhiều, mà không ai dám nổi giận trách phạt và đuổi đi là tại làm sao?”
Cũng trong sách này, chuyện “Thuyết Uyển” có nói:
“Chức đã cao, ý càng phải khiêm cung, quan đã to, tâm càng phải tế nhị; lộc đã hậu, càng phải cẩn thận, chớ có lấy xằng, lấy bậy. Ông giữ được ba điều ấy là đủ trị dân vậy!”
Bây giờ, cán bộ đảng Cộng Sản ở Việt Nam năm nào cũng học tập theo lời “bác Hồ dạy” là “cán bộ phải thực sự thấm nhuần đạo đức cách mạng, thật sự cần, kiệm, liêm, chính, chí công vô tư; phải xứng đáng là người lãnh đạo, người đầy tớ trung thành của nhân dân. Các cơ quan của chính phủ đều là công bộc của dân, nghĩa là để gánh vác chung cho dân chứ không phải đè đầu dân… Việc gì lợi cho dân ta phải hết sức làm. Việc gì hại đến dân ta phải hết sức tránh…”
Nhưng sự thật, học một đàng làm một nẻo. Cán bộ cao cấp ngày nay như đàn heo sục mõm vào máng, mạnh ai nấy ăn, còn nghĩ gì đến bác với chú.
Tại Việt Nam hiện nay, vô số viên chức cầm quyền giàu có bất thường, sống giàu có với những ngôi nhà riêng trị giá hàng triệu đô la, sống xa hoa vương giả. Tổng thanh tra chính phủ là người thanh tra tham nhũng mà cũng tham nhũng để giàu có thì còn trách cứ ai.
Hệ thống thanh tra đã kiểm tra 1,800 cơ quan chính phủ mà chỉ tìm ra 22 cơ quan vi phạm tham nhũng. Tổng số vụ tham nhũng được phát giác trong sáu tháng đầu năm 2017 chỉ có 47 vụ, liên quan đến 66 viên chức, mà cuối cùng chính phủ kết luận chỉ có một trường hợp vi phạm.Tất cả các vụ còn lại, các viên chức nhà nước đều trình bày tài sản, cơ ngơi của họ là do việc lao động cần cù như chạy xe ôm, nuôi heo, bện chổi, làm men nấu rượu, làm bánh kẹo, làm giá… mà trở nên giàu có.
Điều đáng nói là hệ thống thanh tra của chính quyền, nghĩa là đảng đã bao che người của đảng, chấp nhận tất cả những giải thích trên và tuyên bố tha bổng, chỉ giữ lại một trường hợp duy nhất để tế thần.
Ngày nay cha mẹ thấy con tham ô, vơ vét để có nhà cao cửa rộng càng cho là nhà có phước, con thấy cha mẹ giàu có nhờ chức phận thì lấy làm vui, mai sau củng cố cho đời mình, còn ai như chuyện xưa có liêm sỉ mà biết hổ thẹn. Vậy thì cũng không nên hỏi chúng là con cái nhà ai? Giấy rách phải giữ lấy lề! Có lề hồi nào đâu mà phải giữ?
Trong cuộc đời thường, chúng ta ai cũng có một gia đình để bảo vệ thanh danh, có một tôn giáo để vững một niềm tin, có một tổ quốc để hết lòng phục vụ, nhưng đối với những người Cộng Sản… thì không!
Read more…

Bế tắc giải quyết doanh nghiệp nhà nước


Phạm Chí Dũng
Cho tới nay chính phủ của ông Nguyễn Xuân Phúc dường như vẫn nguyên trạng thế bế tắc trong mục tiêu giải quyết hàng loạt doanh nghiệp nhà nước làm ăn lỗ lã, cận kề phá sản. Nhưng nguy hiểm nhất là đang bắt ngân sách phải còng lưng trả nợ thay cho núi vay trong quá khứ.
Con nợ Đạm Ninh Bình là một ví dụ…
Nợ doanh nghiệp nhà nước
Hãy đối chiếu giữa khối doanh nghiệp nhà nước và khối doanh nghiệp tư nhân. Khối doanh nghiệp nhà nước chiếm tới 2/3 tổng tài sản, 60% nguồn vốn tín dụng, 70% nguồn vốn ODA và được ưu đãi rất lớn về khả năng tiếp cận tín dụng và những điều kiện về chính sách, nhưng lại hoạt động quá tệ. Ít nhất 30% doanh nghiệp nhà nước bị lỗ và khối này chỉ đóng góp được khoảng 1/3 tổng sản phẩm xã hội.
Gần như ngược lại, khối doanh nghiệp tư nhân chỉ chiếm 1/3 tài sản, chẳng mấy được ưu đãi về tín dụng và chỉ có thể “hớt cặn” vốn ODA, lại còn bị phân biệt đối xử đủ đường, nhưng lại tạo ra đến 2/3 tổng sản phẩm xã hội.
Nội dung đáng chú ý nhất của Luật Quản Lý Nợ Công (sửa đổi) (vừa được “thống nhất cao” hồi Tháng Năm) là không chấp nhận đưa các khoản vay nợ nước ngoài của tập đoàn và doanh nghiệp nhà nước vào khái niệm nợ công quốc gia. Trong khi đó, loại nợ này lại là một trong năm định nghĩa về nợ công của cơ quan thống kê của Liên Hiệp Quốc.
Nhưng tại sao luật về nợ công của Việt Nam lại như cố tình không gộp cả phần nợ vay nước ngoài của các tập đoàn và doanh nghiệp nhà nước?
Theo một phân tích của Tiến Sĩ Vũ Quang Việt vào đầu năm 2017 ngay trên một tờ báo nhà nước là Thời Báo Kinh Tế Sài Gòn, nợ của 3,200 doanh nghiệp nhà nước theo điều tra của Tổng Cục Thống Kê năm 2014 là 4.9 triệu tỷ đồng ($231 tỷ), gấp nhiều lần con số 1.5 triệu tỷ đồng mà Bộ Tài Chính đưa ra chỉ cho một số tập đoàn và công ty lớn. Ước tính thêm cho thấy năm 2016, nợ của doanh nghiệp nhà nước là $324 tỷ, bằng 158% GDP.
Như vậy, cộng cả nợ chính phủ và nợ doanh nghiệp nhà nước sau khi trừ đi phần chính phủ bảo lãnh trùng lặp, tổng số nợ năm 2016 là $431 tỷ, bằng 210% GDP.
Trước đây và đặc biệt dưới thời của Thủ Tướng Nguyễn Tấn Dũng, việc chính phủ bảo lãnh cho tập đoàn và doanh nghiệp nhà nước vay vốn của nước ngoài diễn ra tràn lan và vô tội vạ. Trong khi đó, nhiều doanh nghiệp nhà nước làm ăn kém hiệu quả, có ít nhất 30% số doanh nghiệp nhà nước luôn phải đối mặt với nguy cơ phá sản.
Còn sang thời Thủ Tướng Nguyễn Xuân Phúc, vấn đề bảo lãnh vay nợ nước ngoài cho doanh nghiệp nhà nước gần như đã bị chính phủ đóng lại bởi vì số nợ công tăng vượt mặt. Theo tinh thần mới nhất mà Thủ Tướng Phúc họp với ngành tài chính và các ngành khác, nếu doanh nghiệp nhà nước không trả được nợ vay nước ngoài thì sẽ phải tự phá sản chứ không thể trông đợi vào sự cứu giúp của chính phủ.
“Phán quyết” mới nhất của chính phủ là cơ quan này sẽ bảo lãnh cho doanh nghiệp nhà nước vay nợ nước ngoài chỉ đúng $1 tỷ trong năm 2017, giảm mạnh so với mức bảo lãnh $2.5 tỷ trong năm 2015 và $1.5 tỷ trong năm 2016.
Giải pháp SCIC?
Tổng Công Ty Đầu Tư và Kinh Doanh Vốn Nhà Nước (SCIC) được thành lập vào năm 2005, tức cách đây đến 11 năm. Vào lúc thành lập, SCIC đã được giới chức quản trị và báo chí nhà nước tung hô như một cơ quan sẽ giúp cho bộ máy quản trị tinh gọn và nâng cao hiệu quả sử dụng vốn nhà nước.
Tuy nhiên, khoảng thời gian tồn tại hàng chục năm qua của SCIC cũng trùng với thời gian diễn ra phong trào tham nhũng ghê gớm nhất ở Việt Nam, tồn tại dưới “triều đại Nguyễn Tấn Dũng.” Cho đến những năm gần đây, rất nhiều dư luận xã hội đã cho rằng SCIC đã không làm gì khác ngoài việc lấy vốn nhà nước đi gửi ngân hàng để lấy lãi hoặc chỉ bỏ tiền vào những vụ việc mang màu sắc “trục lợi chính sách.” Trong khi đó, vốn nhà nước ở nhiều tập đoàn, tổng công ty vẫn đều đặn thất thoát (Vinashin, Vinalines…).
Vào Tháng Chín, 2016, Bộ Tài Chính cho biết là từ năm 2014 đến năm 2015, SCIC đã triển khai bán vốn thành công tại 12 doanh nghiệp niêm yết theo phương thức bán thỏa thuận ngoài hệ thống Sở Giao Dịch Chứng Khoán, sàn Upcom với giá bán nằm ngoài biên độ giá giao dịch của mã chứng khoán tại ngày chuyển nhượng. Kết quả, giá trị vốn đầu tư SCIC hạch toán trên sổ sách kế toán là 211,499 tỷ đồng, giá trị bán vốn thu về là 757,904 tỷ đồng, chêch lệch bán vốn là hơn 565,215 tỷ đồng, chênh lệch giữa giá trị thu về so với giá trị tính theo mức giá trần của mã chứng khoán tại ngày chuyển nhượng là 371,236 tỷ đồng.
Như vậy, SCIC đã bán vốn nhà nước được khoảng $25 tỷ trong hai năm qua. Năm 2014 lại là năm mà tình hình thu ngân sách bắt đầu khó trầm trọng, giá dầu thô quốc tế giảm mạnh, đồng thời nguồn vay ODA quốc tế cũng giảm mạnh, trong lúc chính phủ phải “căng mình” để trả nợ (nợ quốc tế phải trả trong năm 2015 lên đến $20 tỷ).
Câu hỏi đặt ra là con số $25 tỷ mà SCIC đã bán được chi dùng cho cái gì?
Nhiều khả năng con số trên được chi trả cho đội ngũ công chức viên chức lên đến gần ba triệu người, còn lại để chi “đầu tư phát triển” (trong đó không ít công trình trụ sở hành chính và tượng đài ngàn tỷ), và trả nợ nước ngoài.
Với kết quả quá sức hạn chế như vậy của SCIC, liệu một “siêu ủy ban quản lý vốn nhà nước” – đang được chính phủ và các bộ ngành dự tính cho thay thế SCIC – sẽ làm được gì, hay lại chỉ mang đến một tầng nấc trung gian mới?
Phá sản
Từ vài năm qua, đã xuất hiện một ít doanh nghiệp nhà nước bị phá sản, tuy chiếm tỷ lệ rất nhỏ so với doanh nghiệp tư nhân.
Nhưng năm 2017 và những năm tiếp theo sẽ khác hẳn. Doanh nghiệp nhà nước sẽ “đồng hành” với tình trạng khốn khó của doanh nghiệp tư nhân.
Không khó để dự đoán rằng một khi chính phủ gần như phủi tay trước nhiều món nợ vay nước ngoài của các tập đoàn và doanh nghiệp nhà nước, ngay trong hai năm 2017 và 2018 sẽ xuất hiện những cái tên doanh nghiệp nhà nước bắt buộc phải phá sản, thậm chí còn phải đối mặt với vòng lao lý.
Và sẽ ập đến cả một phong trào “bắt doanh nghiệp nhà nước,” đi đôi với chiến dịch “bắt ngân hàng” đã, đang và sẽ gây náo loạn…
Bán và bán
Trong bối cảnh ngân sách năm 2016 vẫn tiếp tục bội chi đến 5.4% GDP và các nguồn thu từ trong nước lẫn từ quốc tế vẫn tiếp tục eo hẹp nhanh chóng, đời Thủ Tướng Phúc đã chẳng thể làm gì khác hơn thời gian cuối đời Thủ Tướng Nguyễn Tấn Dũng là bán đi những gì sẵn có.
Một trong những nguồn sẵn có vẫn còn có thể bán được là phần vốn nhà nước nằm trong các doanh nghiệp.
Vào đầu Tháng Năm, Bộ Tài Chính – cơ quan mà vào giai đoạn cuối đời Thủ Tướng Dũng đã mang chức trách chuyên đi vay nợ để cứu vãn ngân sách, sau này chính thức có thêm chức năng mới là “bán vốn nhà nước” – đã kiến nghị Thủ Tướng Phúc quyết định phương án bán tiếp cổ phần Vinamilk.
Đồng thời, chính phủ cũng đã lên kế hoạch bán vốn tại Tổng Công Ty Điện Lực Dầu Khí Việt Nam (PV Power). Thậm chí, chính phủ còn để ngỏ phương án có thể bán tới 49% vốn tại PV Power.
PV Power là một trong ba nhà cung cấp điện lớn nhất cùng với Tập Đoàn Điện Lực (EVN) và Tập Đoàn Công Nghiệp Than – Khoáng Sản (TKV). Dự trù, việc bán cổ phần có thể giúp nhà nước thu về $700 triệu, và số tiền thu được sẽ “sử dụng làm nguồn vốn đầu tư cho các dự án năng lượng khác” – theo thông tin từ phía chính phủ. Tuy nhiên nhiều người thừa hiểu rằng một nền ngân sách “thủng túi” chỉ có thể sống sót nếu được “tiếp máu” bằng tiền bán vốn nhà nước tại các doanh nghiệp.
Cần nhắc lại, thời điểm cuối năm 2015 đã chứng kiến Thủ Tướng Dũng quyết định bán cổ phần tại hàng chục doanh nghiệp nhà nước, kể cả “con bò sữa” như Vinamilk để “bù đắp khó khăn ngân sách,” trong bối cảnh “ngân sách trung ương chỉ còn 45,000 tỷ đồng mà không biết chi cho cái gì.”
Cuộc “cách mạng bán tháo vốn nhà nước” lại diễn ra ngay vào đầu năm 2016, để đến giữa năm phía chính phủ “xông xênh” bước ra trước Quốc Hội với món tiền bán vốn được 10,000 tỷ đồng. Tuy nhiên, chừng đó vẫn là quá ít so với túi thủng ngân sách.
Đến Tháng Tám, 2016, Thủ Tướng Nguyễn Xuân Phúc đã phải chỉ đạo tiếp tục bán vốn tại hàng loạt doanh nghiệp khủng như Tổng Công Ty Cổ Phần Bia Rượu Nước Giải Khát Sài Gòn (Sabeco), Tổng Công Ty Cổ Phần Bia Rượu Nước Giải Khát Hà Nội (Habeco) và bán cổ phần của Tổng Công Ty Đầu Tư Và Kinh Doanh Vốn Nhà Nước (SCIC) tại 10 doanh nghiệp như Công Ty Cổ Phần Sữa Việt Nam (Vinamilk), Tổng Công Ty Cổ Phần Bảo Minh, Tổng Công Ty Cổ Phần Tái Bảo Hiểm Quốc Gia Việt Nam, Công Ty Cổ Phần Nhựa Thiếu Niên Tiền Phong, Công Ty Cổ Phần FPT, Công Ty Cổ Phần Viễn Thông FPT…
Trong khi kế hoạch bán đường, bán cảng, bán sân bay… mà Thủ Tướng Dũng chỉ đạo các bộ ngành “nghiên cứu thực hiện” từ năm 2015 vẫn chưa đâu vào đâu, đơn giản là vì chưa có ai mua, thì việc Thủ Tướng Phúc rút tiền từ cổ phần nhà nước trong các doanh nghiệp lớn là chóng vánh và thuận lợi nhất.
Một chuyên gia ngành tài chính ước tính, nếu bán hết vốn nhà nước tại 10 công ty thuộc SCIC cùng Habeco, Sabeco, nhà nước có thể thu được tới $7 tỷ (khoảng 150,000 tỷ đồng).
Con số 150,000 tỷ đồng trên, bằng khoảng 13% chi ngân sách năm 2016, là một số tiền lớn và đáng kể trong bối cảnh đảng không biết lấy tiền đâu để chi xài sau những vụ suýt nữa vỡ nợ của các Thành Ủy Cà Mau và Tỉnh Ủy Bạc Liêu vào cuối năm 2015, để sang năm 2016 còn nghe nói đảng đã phải dùng đến “quỹ đen” (một loại quỹ dự phòng trong đảng) và đang phải tìm cách “nhất thể hóa” giữa một số cơ quan đảng với cơ quan chính quyền để tiết giảm nguồn chi ngân sách.
Song 150,000 tỷ đồng cũng chỉ đủ để chi ngân sách khoảng 1.5 tháng. Hoặc chỉ có thể bù đắp được gần 2/3 của khoản bội chi ngân sách năm 2016 có thể lên đến 254,000 tỷ đồng.
Nhưng sau khi bán sạch những cổ phần ngon ăn và màu mỡ nhất tại các doanh nghiệp, chính phủ Việt Nam còn gì để bán vào những năm tới?
Read more…

THƯƠNG EM ĐỒNG HƯƠNG

 
JB Nguyễn Hữu Vinh 

Mấy hôm nay ngẫm mà thương cô em đồng hương, thân phận nữ nhi, nghề nghiệp không có nên đành theo nghề chính trị - tất cả bằng cấp nghề nghiệp của em đều ghi là Chính trị.
Vụ em đỗ xe giữa đường rồi gọi thằng chủ tịch và công an phường ra trông cho em ăn bún thì cũng không có gì lạ lắm - Em là quan, em có quyền mà, thiếu gì thằng còn muốn bưng bô và lau đít cho em nữa cơ. Tiếc là chức em chưa to. Cỡ em Ngân nữa thì có mà cả đống.
Ở quê em nhiều nhà cán bộ có đám cưới còn chặn luôn cả đường đi, mở loa đài hết công suất, có thằng quan chức nào to to chút thì về đỗ xe biển xanh bất cứ đâu, xướng tên thật to cho oai... là bình thường. Em này mà về quê thì cả làng phải biết là họ này, nhà này có con làm quan ở Hà nội, thế lực ghê lắm... đừng dại dột mà động vào nhà nó. Thế mới oai và thiên hạ mới sợ. 
Thậm chí có những đứa con gái về quê còn khoe tao có xe đẹp và vàng nhiều... còn ông nọ, ông kia... thì đã từng ngủ với tao. Bà con nông dân sợ xanh mặt. 
Dù em đi xa quê em vẫn giữ nguyên nét văn hoá làng xóm nông dân ra thủ đô chứ không để phai nhạt. 
Rồi qua các phong trào học tập và làm theo, em học được cách “coi dân như con, coi bà con như... mẻ” nên em phải thể hiện cho bà con biết là quyền lực của em không chỉ ở trên giường mà còn cả ngoài đường. 
 Mình vốn không rõ lắm nghề chính trị là nghề gì nên nhờ Gu Gồ thì đọc được một câu là tiêu đề bài viết trên blog của Bọ  Nguyễn Quang Lập như sau: “Chính trị là con đĩ, nó ngủ với bất cứ ai trả tiền cho nó”.
À thì ra vậy. Hèn chi mà bằng món chính trị này, em leo lên làm Phó chủ tịch Quận ở Thủ đô. 
Và khi em đã trót thể hiện một phần cái oai kèm theo hai phần cái ngu của em nên bị ném đá thì em bắt đầu giở bài của “con đĩ chính trị” rằng thì là “tiềm ẩn một số phần tử có ý đồ chính trị” và “bôi nhọ chính quyền”. 
Thế có nghĩa là Chính quyền đi ăn bún, chính quyền đi gội đầu rồi chính quyền đi vệ sinh... được các chính quyền khác trông xe, cầm áo khoác và lấy hộ giấy vệ sinh thì mấy thằng dân ý kiến là đíu được. Còn nhiều phần tử có ý đồ chính trị đã lợi dụng lúc chính quyền cởi truồng giữa phố để bôi nhọ là không được. 
Thân ôi, cái chính quyền được em nhân danh mà hành xử như em thì chính em mới bôi nhọ qua hành động thiếu văn hoá đường phố của mình chứ em. 
Khi em cởi truồng về nhân cách thì em đừng đại diện cho chính quyền chứ em. 
Nếu em không cởi truồng giữa phố thì thử hỏi ruồi muỗi có thèm đậu vào làm em nhột hay không. 
Nhưng dù sao cũng thương em, em chỉ mới tập thể hiện chút mà bọn con dân ném đá là láo quá.

Read more…

Đừng lặng im mãi thế



Từ lúc còn ngồi ở bậc tiểu học cho tới khi bước vào giảng đường đại học, tâm hồn tôi luôn choáng ngợp với những tấm gương dũng liệt của tiền nhân. Tôi đã từng mơ hào khí Lam Sơn anh hùng vạn trượng; mơ thành người Quang Trung vào thành Thăng Long mà chiến bào còn hoen vết máu quân thù. Bên cạnh đó, tôi cũng xúc động biết bao khi nhị vị Trưng Nữ Vương trầm mình nơi Hát Giang tuẫn tiết, tránh rơi vào tay quân dữ Hán triều; máu nóng rộn ràng vì câu nói lẫm liệt của Triệu Thị Trinh: "Tôi muốn cỡi cơn gió mạnh, đạp bằng sóng dữ, chém cá tràng kình ở biển đông, đánh đuổi quân Ngô, giành lại giang sơn, cởi ách nô lệ, chứ tôi không muốn khom lưng làm tì thiếp người ta."

Lịch sử của dân tôi đã được điểm tô như thế, bởi những bậc anh hùng đầu đội trời chân đạp đất; bởi những nữ lưu dù đối diện với cái chết vì tổ quốc, vì đồng bào mà cũng không một chút mày chau!

Lịch sử vẫn còn đó. Nhưng sao trong tôi, bây giờ lại trở nên vô cùng xa lạ như thế?

Bây giờ tôi không còn được nghe những sự tích anh hùng. Bên tai tôi ngày nay toàn là những lời hèn mạt của lũ quan chức cao vời, nhưng trong đầu không có lấy một chút tự trọng, mà đầy ắp những cặn bả của một tâm thức nô lệ ngoại bang, sẵn sàng uốn gối làm nô tài cho giặc Tàu phương bắc.

Một ông bộ trưởng quốc phòng, mà không có sống lưng, nơm nớp lo sợ "tinh thần chống tàu" như thế của nhân dân sẽ rất nguy hiểm! Một ông tổng bí thư mà phải gập mình cúi sát chào hoàng đế Hồ Cẩm Đào, tư thế của Nông Đức Mạnh trông rất giống một tên thái giám đón vua.

Trước mắt tôi là hình ảnh cựu Chủ Tịch quốc hội cộng sản Nguyễn Sinh Hùng quỳ lạy tượng thần Mao Trạch Đông; là hình ảnh ngồi hỏng chân của Tổng bí thư Nguyễn Phú Trọng khi qua Bắc Kinh chầu hầu Tập Cận Bình. 

Khắp nơi trên đất nước Việt Nam ngày nay đã tràn lan những biệt khu dành riêng cho người Tàu, mà người Việt Nam bản địa không được phép bén mảng. Người dân Việt đói nghèo không có việc làm kiếm cơm, phải lo tìm cách chạy vạy tiền bạc, lo lót con đường xuất khẩu lao động, có nhiều trường hợp tiền mất tật mang, mang nợ ngập đầu, trong khi đó thì nhà nước Việt Nam lại cho phép công nhân Trung cộng nhập khẩu Việt Nam làm việc. Sự phân công lao động bất hợp lý như thế vì sao lại xảy ra trên đất nước này? Nó cho ta thấy ai mới là mang tâm thức nô lệ, dù lũ dư luận viên có mồm năm miệng mười, che chắn cho cái mặt xấu xa của chế độ thì cũng không thể nào, vì sự thật đã lộ ra trắng đen rõ ràng.

Và có vẻ như lời tuyên bố của Lê Duẩn khi nói về chiến tranh Việt Nam "Ta đánh Mỹ là đánh cho Liên Sô và Trung  Quốc!" còn chưa đủ để làm cho bộ mặt của lịch sử Việt Nam bị biến dị, thê thảm, thì ngày nay lại bồi thêm lời tuyên bố của một nữ Phó Chủ Tịch Ủy Ban Nhân Dân Tỉnh Quảng Ninh, bà Vũ Thị Thu Thủy: "xin đừng vì một vài đảo nhỏ ở biển Đông mà làm mất đi tình hữu nghị láng giềng tốt đẹp giữa hai nước, bởi nếu không có đảng cộng sản Trung Quốc chống lưng, đảng ta không thể tồn tại cho đến ngày hôm nay." 

Một phó chủ tich UBND của tỉnh Quảng Ninh mà trắng trợn tuyên bố như thế, giữa bàn dân thiên hạ, thì quả thực là không còn gì để nói! Cái tâm thức nô lệ ấy đã được chế độ uốn nắn, đúc khuôn từ lâu để chờ giao đất nước này vào tay của Tàu cộng.

Này chị, này anh
Đừng giữ mãi lặng im
Hãy cùng nhau lên tiếng
Cho đất nước này một cơ hội hồi sinh
Hào khí nữ nhi, vọng tiếng trống Mê Linh
Đồn Ngọc Hồi, Bắc Bình Vương thúc trận
Tổ tiên ta ngàn đời uy chấn
Cớ sao con cháu bây giờ
Nỡ cúi mặt làm thinh?

17.07.2017

Read more…

Vụ hai nông dân bị tuyên án nhận "hối lộ": Sao phải quyết truy tố đến cùng?

Định An
Trên đất nước hình chữ S này đã có biết bao nhiêu bản án oan, biết bao nhiêu cuộc đời con người bị hủy hoại bởi sự dốt nát và chuyên quyền của những kẻ được gọi là điều tra viên, công tố viên và quan tòa. Và hôm nay lại có thêm một bản án oan nữa, đó là bản án nhận hối lộ dành cho hai nông dân, ông Nguyễn Thành Nam và ông Nguyễn Thanh Tuấn ở xã Hàm Cần (Hàm Thuận Nam, Bình Thuận).
Kết quả hình ảnh cho Hối lộ
Ông Nguyễn Thanh Tuấn (bìa trái) và Nguyễn Thành Nam. Ảnh: IT.
Vụ án được tóm tắt như sau: (theo báo pháp luật TP HCM)
Hai nông dân, ông Nguyễn Thành Nam và Nguyễn Thanh Tuấn trú thôn Lò To, xã Hàm Cần, (Hàm Thuận Nam, Bình Thuận) được Ngân hàng Chính sách xã hội huyện Hàm Thuận Nam hợp đồng làm tổ trưởng (ông Nam) và làm tổ phó (ông Tuấn) tổ tiết kiệm vay vốn do Hội Nông dân xã Hàm Cần quản lý. Nhiệm vụ là hướng dẫn người dân làm hồ sơ vay vốn và giám sát, đôn đốc việc thu lãi.
Ông Nam thấy ông Tuấn thường xuyên bỏ bê việc đồng áng gia đình để lo làm thủ tục cho các hộ dân. Vì vậy, trong một cuộc họp hướng dẫn cho các hộ nghèo vay vốn, ông Nam đề nghị bà con nên phụ tiền xăng xe, tiền card điện thoại cho ông Tuấn đi lại, liên hệ để vay giúp tiền cho bà con và mọi người đều đồng ý – tổng số tiền là 16,5 triệu.
Tháng 3/2015 Công an huyện Hàm Thuận Nam khởi tố bắt giam ông Tuấn và ông Nam về tội nhận hối lộ (giam gần 2 tháng thì cho tại ngoại)
Tháng 8/2015 Tòa án nhân dân huyện Hàm Thuận Nam tuyên phạt ông Tuấn 8 năm tù, ông Nam 7 năm tù. Mặc dù những người dân được triệu tập tới tòa đều khẳng định họ chỉ phụ tiền công cho ông Tuấn đi vay giúp chứ không hề đưa hối lộ. Hai ông kháng cáo, kêu oan.
Tháng12/2015 TAND tỉnh Bình Thuận mở phiên tòa phúc thẩm và đã tuyên hủy toàn bộ bản án sơ thẩm để điều tra, xét xử lại. Đặc biệt, tại phiên tòa những hộ dân vay tiền khai đơn tố cáo là do điều tra viên đọc cho họ viết, có trường hợp đưa mẫu cho họ viết chứ họ không hề có ý định tố cáo.
Tháng 8/2016 Công an huyện Hàm Thuân Nam ra quyết định miễn truy cứu trách nhiệm hình sự. Hai ông đòi bồi thường, xin lỗi.
Tháng 11/2016 Công an huyện Hàm Thuận Nam lại ra quyết định phục hồi điều tra. Và ngày 13/7 trong phiên xử lần hai TAND huyện Hàm Thuận Nam đã tuyên hai bị cáo Nguyễn Thành Nam và Nguyễn Thanh Tuấn phạm tội nhận hối lộ. Nhưng được miễn hình phạt vì cho rằng hành vi của hai bị cáo chưa đến mức phải cách ly ra khỏi xã hội, có nhiều tình tiết giảm nhẹ như đề nghị của VKS.
Qua tóm tắt trên, có một vài câu hỏi được đặt ra:
Trước hết, vì sao cơ quan điều tra Công an huyện Hàm Thuận Nam lại phải dày công hình sự hóa một vụ án dân sự? Hà cớ gì điều tra viên lại xúi dục các hộ nông dân tố cáo? Tại sao Tòa án không làm rõ vấn đề này? (Tại tòa những hộ dân vay tiền khai họ không hề có ý định tố cáo, đơn tố cáo là do điều tra viên đọc cho họ viết, có trường hợp đưa mẫu cho họ viết - xem thêm báo Pháp luật TP.HCM)
Tại sao tại phiên xử ngày 13/7 Tòa án nhân dân huyện Hàm Thuận Nam dù không chứng minh được những yêu cầu mà tòa phúc thẩm đặt ra, nhưng tòa vẫn kết án hai ông về tội nhận hối lộ và cho miễn hình phạt? Lý giải điều này, ông Đinh Văn Quế, nguyên Chánh tòa hình sự TAND tối cao nhận định: Phải chăng bản án này đã được ba ngành “thống nhất” từ trước?! Phải chăng đây là cách để né bồi thường oan? Nhận định này là rất có cơ sở, bởi vì đã có rất nhiều vụ án Viện kiểm sát dùng “chiêu” truy tố đến cùng và miễn trách nhiệm hình sự để né bồi thường oan. Chẳng hạn như vụ án của anh Lý Quốc Nghiệp ở Trà Vinh. Anh Nghiệp được xác định vô tội hai lần nhưng sau khi đòi bồi thường oan thì anh thành “có dấu hiệu tội phạm nhưng không còn nguy hiểm”.
Vì sao Công an huyện Hàm Thuận Nam lại phục hồi điều tra mà trước đó đã ra quyết định miễn truy cứu trách nhiệm hình sự. Phải chăng việc khiếu nại đòi bồi thường, xin lỗi của hai nông làm họ cay cú quyết truy tố đến cùng? (Ông Nguyễn Thanh Tuấn cho biết, Quá trình điều tra lại không có thêm cơ sở gì để kết tội tôi và ông Nam nên trung tuần tháng 5/2016, điều tra viên yêu cầu tôi phải làm đơn gửi Công an và VKSND huyện Hàm Thuận Nam xin được miễn truy cứu trách nhiệm hình sự. Trong đó, tôi phải cam đoan nếu được giải quyết sẽ không khiếu nại về sau)
Còn nữa, cáo trạng của VKSND huyện Hàm Thuận Nam quy kết hai nông dân lợi dụng nhiệm vụ được giao. Vậy nhiệm vụ ở đây là gì, ai giao? Đại diện UBND xã Hàm Cần cũng cho biết cả hai bị cáo không có quyền hạn, chức vụ gì và UBND xã không ra quyết định nào bổ nhiệm hai nông dân này phụ trách việc vay vốn. Đại diện phía ngân hàng CSXH cũng cho biết đây chỉ là giao dịch dân sự, hai ông không có quyền hạn gì về việc quyết định cho vay.
Dường như cả hệ thống hành pháp, tư pháp huyện Hàm Thuận Nam (Bình Thuận) đang cố tình kết án bằng được hai nông dân hòng hợp thức hóa cái sai của họ để phủi bỏ trách nhiệm. Có cảm giác một vài cá nhân có chức có quyền lấy tay che trời, coi thường pháp luật, xem người dân chỉ là phận con kiến. Để xem tòa án nhân dân tỉnh Bình Thuận khi xét xử phúc thẩm vụ án này có nhìn thẳng vào sự thật để tuyên án hai nông dân vô tội hay lại bao che, né tránh.
Định An
Read more…

Đọc lại bài “Suy nghĩ về Huyền thoại Hồ Chí Minh“ của nhà nghiên cứu Lữ Phương để liên hệ với hôm nay

                            

Cái Trí của ông không theo kịp cái Tâm.

Lời giới thiệu: Ngày 15/7/2017 vừa qua, Blog Hiệu Minh đăng bài “Nhị sư Bảo Châu“ có viết: Năm ngoái vào dịp kỷ niệm ngày sinh cụ Hồ, một số người trương cao khẩu hiệu Cụ Hồ sống mãi trong sự nghiệp của chúng ta, còn nhà Nobel Toán học, Viện sĩ Viện hàn lâm khoa học Pháp là Ngô Bảo Châu thì viết “Có quý mến ai thì mong cho họ thoát khỏi vòng luân hồi, đừng bắt họ sống mãi trong sự nghiệp của chúng ta“, Học viện an ninh nhân dân (C500) cho là GS Châu đã xúc phạm cụ Hồ nên đã chửi rủa ông với mọi lời bẩn thỉu. Thực ra cụ Hồ đã có Di chúc để lại dặn hỏa táng Cụ, để Cụ đi gặp cụ Mác và cụ Lê chứ Cụ không để lại lời hứa nào sẽ mãi mãi đi theo sự nghiệp của chúng ta. Vì vậy, tôi tìm và giới thiệu bài viết của ông Lữ Phương đăng cách đây khoảng 10 năm, để dư luận liên hệ, so sánh và phán xét việc C500 vu cáo và chửi rủa GS Châu như thế có công bằng không.

Giới thiệu tóm tắt về tác giả:

Lữ Phương sinh năm 1938 tại tỉnh Hà Nam Ninh, theo gia đình vào Saigon, định cư từ năm 1945. Năm 1960, ông tốt nghiệp Trường Đại học Saigon, sau đó làm việc cho Tạp chí Tin Văn Saigon. Năm 1968 Lữ Phương tham gia Mặt trận giải phóng miền nam Việt Nam, vào Chiến khu R, gia nhập Đảng cộng sản lúc đó đã đổi tên thành Đảng Lao động Việt Nam, rồi giữ chức Thứ trưởng Bộ Văn hoá thông tin của Chính phủ lâm thời cách mạng miền nam Việt Nam. Sau năm 1975, Chính phủ lâm thời cách mạng miền nam Việt Nam giải tán, Lữ Phương nghỉ hưu. Ông tiếp tục nghiên cứu triết học và chính trị, kể cả Chủ nghĩa Mác - Lenin.
Từ năm 2007, Lữ Phương đã công bố những kết quả nghiên cứu của ông, trong đó có các tác phẩm:
1 - Từ Nguyễn Tất Thành đến Hồ Chí Minh (đăng trên Talawas)
2 - Suy nghĩ về Huyền thoại Hồ Chí Minh (đăng trên Việt Nam thư quán) ,
3 - Từ chủ nghĩa yêu nước đến chủ nghĩa xã hội,
4 - Chủ nghĩa Mác - xít và chủ nghĩa xã hội hiện thực,
5 - Về “ Một bóng ma của Marx “.
Dưới đây là bài “ Suy nghĩ về Huyền thoại Hồ Chí Minh “ của tác giả Lữ Phương:
* * *
Hồ Chí Minh là một nhân vật quan trọng trong phong trào cộng sản quốc tế và giải phóng dân tộc thuộc thế kỷ 20. Ông lập ra Đảng cộng sản Việt Nam, tổ chức cuộc chiến đấu bền bỉ chống lại các thế lực thực dân hiện đại, hoàn thành độc lập thống nhất, tạo cơ sở quyền lực để thiết lập chế độ mà ông gọi là chủ nghĩa xã hội hiện thực ở Việt Nam.
Trên thế giới và trong nước đã có khá nhiều ý kiến nhận định, đánh giá sự nghiệp của ông với nhiều quan điểm khác nhau. Riêng ở quốc gia cộng sản Việt Nam, từ một nhân vật lịch sử, ông đã bị biến thành một nhân vật huyền thoại, để gây tác dụng rất huyền hoặc trong dân chúng.
Những người nghiên cứu về Việt Nam cho rằng hiện tượng huyễn hoặc này sinh ra từ 3 nguồn gốc:
1 - Tự ông Hồ cố ý tạo ra để lôi kéo dân chúng,
2 - Đảng cộng sản đã dầy công biến ông thành một “biểu tượng thờ phụng của chế độ“,
3 - Một số người Việt hy vọng vào ông như một người cứu độ, giúp họ thực hiện những mong mỏi từ ngàn đời của đất nước và của bản thân.
Huyền thoại Hồ Chí Minh đã cho đã cho Đảng cộng sản Việt Nam uy tín hầu như quyết định để chiến thắng trong thời chiến giành độc lập nhưng đã thất bại hoàn toàn trong xây dựng thời hòa bình. Vì thế, huyền thoại Hồ Chí Minh đã dần dần tan vỡ trong lòng nhân dân và cả trong Đảng nên chúng ta cần có một cái nhìn công bằng về ông, một nhân vật lịch sử trong thế kỷ đã qua.
Vẽ Rồng chỉ thấy đầu không thấy đuôi:
Trong một thời gian dài, ông Hồ thường xuyên hoạt động bí mật nên lý lịch của ông cũng là điều bí mật. Sau cách mạng 1945, nhiều người chưa biết ông là ai. Nhiều đoạn đời của ông đã bị các nhà viết tiểu sử cho ông để trống, chẳng hạn sau vụ thất bại Xô Việt Nghệ Tĩnh 1930 ông đi đâu không ai biết, cho đến năm 1941 mới xuất hiện và về nước. Về phần ông thì ông lại không chịu viết hồi ký, không chính thức công bố lý lịch đầy đủ của mình. Nếu viết thì ông không ký tên thật. Trong “Những mẩu chuyện về đời hoạt động của Hồ chủ tịch“ với bút danh Trần Dân Tiên, ông chỉ tự giới thiệu là một người cách mạng nay đây mai đó, không có cuộc sống riêng tư. Người ta cho rằng ông cố ý tạo ra hình ảnh bí hiểm như vậy.
Trong một cuốn sách nhỏ, ông Hồ đã khen cái tài vẽ Rồng của một họa sĩ Trung Hoa. Ông khen cái tài đó là làm cho người xem chỉ thấy đầu rồng, chứ không thấy rõ đuôi rồng vì đã vẽ đuôi bị mây che khuất. Rồi ông đã dùng thủ thuật đó để tự họa mình. Với khuôn mặt xương xương, dáng người gầy, 50 tuổi đã để râu dài, ông đã tự tạo ra một cốt cách thanh thoát mờ ảo, xuất thế hơn so với một số lãnh tụ cộng sản Châu Á khác, chẳng hạn so với Mao Trạch Đông. Do vậy, hình ảnh của ông trước công chúng chẳng những là một lãnh tụ cộng sản mà còn là một nhà hiền triết Phương Đông. Không chỉ có vậy, trong thời kháng chiến chống Pháp, bộ máy tuyên truyền của Việt Minh đã tôn ông lên là “ Cha già dân tộc “. Ông dùng hình ảnh này tự đề cao mình. Chính ông đã viết trong “ Những mẩu chuyện về đời hoạt động của Hồ chủ tịch “ rằng “Nhân dân gọi Hồ Chủ tịch là Cha già dân tộc, vì Chủ tịch là người con trung thành nhất của Tổ Quốc Việt Nam“. Về sau, có lẽ thấy tự xưng Cha của dân tộc là quá lố, ông không nhắc lại nữa. Trong tiếng Việt, từ ngữ “Bác“ dùng để chỉ anh của cha mình. Ban đầu, ông dùng để xưng hô với các cháu thiếu nhi nhưng rồi ông cũng vui vẻ chấp nhận để mọi người, kể cả gười cao tuổi gọi ông là Bác. Ông không chấp nhận ai xưng hô với ông bằng “đồng chí“. Tôi (Lữ Phương) được nghe kể lại là ông Trần Văn Giàu và nhà văn Nguyễn Huy Tưởng đã có lần gọi ông bằng “đồng chí“ bị ông chỉnh rất nghiêm khắc. Suốt 7 năm chiến khu R, cứ đến ngày 19 tháng 5 tôi lại được nghe giảng về tấm gương giản dị, cần kiệm, thân dân của ông, lo cho dân từ tương cà mắm muối và những câu chuyện kể về ông, đại loại như sau:
- Bác Hồ đi dép râu thì ai cũng biết. Nhưng có chuyện đặc biệt là đôi dép của Bác đã mòn. Cậu bảo vệ đề nghị Bác thay đôi mới nhưng Bác không chịu. Nài nỉ không được, cậu bèn lén lấy đôi dép mòn đi đổi lấy đôi dép râu khác tốt hơn. Khi phát hiện ra Bác nhất quyết bắt cậu ta đi lấy lại đôi dép cũ.
- Cứ mỗi lần đến đến Tết Nguyên Đán, Bác Hồ lại gọi điện thoại cho Chủ tịch thành phố Hà Nội Trần Duy Hưng hỏi xem đã lo đủ lá giong cho dân gói bánh chưng chưa. Bác còn làm nhiều việc lặt vặt, tủn mủn khác như thế nữa và để người ta tha hồ dùng nhạc, dùng thơ ca ngợi đức tính như vậy của cụ Chủ tịch nước họ Hồ.
Cứ như thế, từ một anh hùng giải phóng dân tộc, ông trở thành ông tiên trong truyện thiếu nhi và trở thành hình tượng người đi cứu độ chúng sinh. Năm 1975, ngay giữa bùng binh Saigon, tấp nập người qua lại, người ta còn lập bàn thờ của ông với khói hương luôn luôn nghi ngút.
Thần thánh hóa cả cuộc sống riêng tư
Người ta ai cũng có thể có một cuộc sống bình thường, có gia đình, vợ con, do đó chuyện tình ái, vợ con của ông được dư luân rất quan tâm, nhưng sách báo của Đảng cộng sản Việt Nam lại né tránh không nói đến. Người ta cố ý tạo ra một tấm gương thanh cao khác với dưới trần thế: Bác Hồ đã cả một đời vì nước vì non thì màng chi đến vợ con là cái hệ lụy nhân gian ấy! Nhưng người ta đã làm một việc không đúng: có lần chính ông đã cho rằng sai lầm lớn nhất đời ông là không lấy vợ. Trong cuộc sống thực, đã có nhiều chuyện kể rằng ông đã có nhiều nhân tình trên đường ông đã đi qua: từ Pháp, đến Nga, đến Trung Quốc.
Bà Kim Hạnh khi là Tổng biên tập báo Tuổi trẻ, chỉ vì đăng tin ở trang nhất, lộ ra bài thơ của ông (mang bí danh Lý Thụy khoảng năm 1925 khi từ Liên Xô sang Trung Quốc) gửi người vợ Tầu mà bị đuổi khỏi làng báo. Một nhà nghiên cứu người Mỹ, sau khi Liên Xô sụp đổ, tìm trong hồ sơ mật của Đệ tam quốc tế lưu trữ tại Moskva đã phát hiện ra tài liêu ghi lại rằng khi đi dự một Đại hội quốc tế cộng sản ở Nga, ông Hồ khai đã có vợ và người đó là Nguyễn Thị Minh Khai. Chuyện tình của ông ở trong nước lại còn mang những tình tiết bi thảm. Từ lâu, ở Hà nội đã có dư luận về chuyện ông ăn ở với cô Xuân, do Trần Quốc Hoàn lúc đó là Bộ trưởng công an đưa đến phục vụ ông. Cô Xuân đã có một con trai với ông, được Vũ Kỳ là thư ký riêng của ông đem về nuôi, đặt tên là Trung, nay vẫn còn sống. Sau này Hoàn cho người giết cô Xuân để không còn nhân chứng về chuyện ông Hồ có vợ. Tại Đại hội 9 của ĐCS vào tháng 4/2001, nhiều hãng thông tấn Phương Tây nói đến chuyện năm 1941, khi từ Trung Quốc về nước, ông đã có con với một nữ cần vụ người dân tộc thiểu số, nay có tên là Nông Đức Mạnh, Tổng bí thư ĐCS. Có người hỏi Mạnh về việc này thì Mạnh trả lời bâng quơ “ cả nước ta ai cũng là con cháu bác Hồ “. Thực hư ra sao, đến nay chưa được chứng minh nhưng đã để lại nhiều dư luận trong xã hội. Đáng lẽ không đáng có những dư luận như vậy. Các lãnh tụ cộng sản cũng là con người, có tình ái, có vợ con, Đó là bình thường. Nhưng Đảng không muốn như vậy, Đảng phải tô vẽ hình ảnh của ông Hồ trở thành phi thường, lý tưởng, tạo ra thần tượng cho guồng máy của Đảng. Đảng cần thay cái bình thường bằng những sự tích của thần thánh, để giáo dục đảng viên: Anh muốn có đảng tính cao thì anh phải biết tuân phục cái guồng máy lý tưởng của Đảng, phải cố gắng làm tròn vai kịch mà Đảng đã xếp vai cho anh. Càng tạo ra được nhiều truyền thuyết phi thường thì lá cờ Đảng càng thắm màu đỏ máu, sự nghiệp của Đảng càng huy hoàng, không gì thay thế được, anh sẽ được Đảng ban cho nhiều đặc quyền đặc lợi. Không biết ông có cảm thấy những bất ổn cho chính ông, do chót giao vở kịch cho cái đám âm bịnh đội lốt cách mạng của ông thủ vai hay không, khi ông bị mang tiếng thất đức trong cuộc cải cách ruộng đất miền bắc năm 1953 - 1956, rồi dần dần bị cô lập cùng với tướng Giáp, chỉ còn lại vai trò một ngọn cờ tượng trưng, với một bài thơ Xuân để lại năm 1968 “ Xuân này hơn hẳn mấy Xuân qua “. Ông qua đời ngày mồng 2 tháng 9 nhưng đệ tử của ông lại không cho ông chết vào ngày đó mà bắt ông phải qua đời chính thức vào ngày hôm sau mồng 3 tháng 9. Họ cũng không cho ông được hỏa táng theo Di chúc để đi tìm cụ Mác, cụ Lê mà còn đem ông trưng bày cho thiên hạ ngắm nhìn.
Sự lựa chọn chính trị của ông Hồ có thể coi là cẩm nang để chuyển giao cho các thế hệ sau không?
Đảng cộng sản Việt Nam thần thánh hóa con người của ông Hồ Chí Minh chỉ nhằm mục đích thần thánh hóa sự lựa chọn chính trị của ông cho Đảng và nhằm khẳng định một điều rằng: Đảng cộng sản Việt Nam là lực lượng chính trị duy nhất thực hiện được cái tất yếu của lịch sử, vì thế quyền lãnh đạo của Đảng đối với dân tộc sẽ là vĩnh viễn và tuyệt đối.
Có thật như vậy không?
Hãy xem lại từ việc ông Hồ ra đi tìm đường cứu nước (viết trong chương 1 cuốn Từ Nguyễn Tất Thành đến Hồ Chí Minh) .
Hồ Chí Minh lúc đó là Nguyễn Tất Thành chỉ là một trong rất nhiều những thanh niên yêu nước vào lúc bấy giờ. Từ đó mà cho rằng vì yêu nước mà ngay từ đầu Tất Thành đã có ý định ra nước ngoài để tìm giải pháp cứu nước thì không hẳn là tất yếu. D. Hemery, một người Pháp nghiên cứu về Việt Nam đã tìm ra được một tờ đơn của Tất Thành đề ngày 15/9/1911 từ thành phố Marseille, ký tên là Paul Tất Thành gửi cho Chính phủ Pháp xin vào học trường Ecole Coloniale là loại trường đào tạo công chức cho các thuộc địa của Pháp, nhưng đã bị từ chối. Paul Tất Thành còn nhiều lần gửi thư về nước, nhờ quan Khâm sứ Trung Kỳ hỏi tin tức và chuyển tiền cho cha. Những bằng chứng này xác nhận một điều hiển nhiên rằng: tại lúc bỏ nước ra đi, Nguyễn Tất Thành chưa hẳn đã có ý định đi để tìm đường cứu nước, để qua đó lý tưởng hóa cuộc đời của ông ngay từ khi còn trẻ tuổi. Ý định tìm đường cứu nước có thể đã đến với Tất Thành, nhưng là đến sau khi những dự định khác đã thất bại (chẳng hạn sau khi bị từ chối vào học trường đào tạo công chức thuộc địa). Lập luận rằng sau khi bôn ba khắp nơi để nghiên cứu, ông Hồ thấy Chủ nghỉa Mác – Lênin là tuyệt vời và chọn lựa cũng rất ít thuyết phục. Không có bằng chứng rằng ông Hồ đã tiếp thu được những tinh hoa của nhân loại để đến với chủ nghĩa Marx. Ông không giống với những lãnh tụ Châu Á khác như Gandhi, Tôn Dật Tiên đã được chuyển giao kiến thức từ các trường đại học. Ông trở lại nước Pháp khá lâu (6 năm, từ 1917 đến 1923) nhưng hầu như ông chỉ làm những công việc thực hành, như quan hệ tiếp xúc, vận động, viết báo … Ông chỉ đọc những loại sách phổ thông, không có chiều sâu về tư duy để có thể nghiêm chỉnh tiếp thu chủ nghĩa Marx. Dẫn lại vài đoạn ông đã kể về Đại hội Tours của Đảng Xã hội Pháp năm 1920 để chứng minh điều này:
- Người ta thảo luận rất sôi nổi, người ta nhắc đi nhắc lại nào là chủ nghĩa tư bản, giai cấp vô sản, bóc lột, chủ nghĩa xã hội, cách mạng, không tưởng, khoa học, nào là Saint Simon, Fourrier, Marx, chủ nghĩa vô chính phủ, chủ nghĩa cải lương, sản xuất, luận đề, giải phóng, chủ nghĩa tập thể, chủ nghĩa cộng sản, khách quan, chủ quan…
Nguyễn Ái Quốc (tức Tất Thành và sau này là Hồ Chí Minh) chăm chú lắng nghe nhưng không hiểu rõ lắm. Rồi Đại hội biểu quyết gia nhập Đệ tam quốc tế (Cộng sản) hay ở lại Đệ nhị quốc tế (Xã hội) . Có điều lạ, tuy không hiểu rõ lắm nhưng lúc biểu quyết thì Nguyễn bỏ phiếu gia nhập Đệ tam Quốc tế.
- Rô - dơ nữ thư ký của Đại hội rất ngạc nhiên hỏi Nguyễn: Đồng chí Nguyễn. Bây giờ thì đồng chí đã hiểu tại sao ở Paris chúng tôi đã bàn cãi nhiều như thế rồi chứ?
- Nguyễn: Không, chưa thật hiểu đâu.
- Rô - dơ: Thế tại sao đồng chí bỏ phiếu cho Đệ tam quốc tế?
- Nguyễn: Rất đơn giản. Tôi không hiểu thế nào là chiến lược, chiến thuật vô sản và nhiều điều khác nữa. Nhưng tôi hiểu rõ một điều là Đệ tam quốc tế rất chú ý đến vấn đề giải phóng thuộc địa. Đệ tam quốc tế nói sẽ giúp các dân tộc bị áp bức giành lại tự do và độc lập. Còn Đệ nhị quốc tế thì không hề nhắc đến vận mạng của các thuộc địa. Vì vậy tôi bỏ phiếu tán thành Đệ tam quốc tế. Tự do cho đồng bào tôi. Độc lập cho Tổ quốc tôi. Đấy là những điều tôi muốn. Đấy là tất cả những điều tôi hiểu. Đồng chí đồng ý với tôi chứ.
- Rô - dơ cười và nói: Đồng chí đã tiến bộ.
Từ những đoạn do chính ông Hồ kể lại, cho chúng ta được biết mấy điều quan trong liên quan đến vận mệnh tương lai của đất nước chúng ta:
- Nguyễn Ái Quốc (sau là Hồ Chí Minh) chưa biết gì về Chủ nghĩa Marx với tư cách là một học thuyết triết học – chính trị
Ông còn chưa hiểu rõ những khái niệm rất tầm thường có khuynh hướng thiên tả như đấu tranh giai cấp là gì, bóc lột, sản xuất là thế nào, nói gì đến những tự biện của Marx về tha hóa, giá trị thặng dư, sứ mệnh giải phóng của giai cấp vô sản.
- Nguyễn cũng chỉ biết hời hợt về Chủ nghĩa Lê nin, ngoại trừ đọc bài: ” Sơ thảo lần thứ nhất những luận cương của Lênin về các vấn đề dân tộc và thuộc địa “ đăng trên báo L' Humanité tháng 7/1920 trước khi họp Đại hội Tours.
- Ông đã chọn lựa con đường đi theo Lênin chỉ vì thông qua Đệ tam quốc tế, Lê nin hứa giúp các dân tộc bị áp bức giành lại tự do và độc lập. Sự lựa chon của ông do vậy là hoàn toàn cảm tính, vội vàng và phiến diện, không phải là thái độ nghiêm chỉnh về sự lựa chọn chính trị. Trong những thời gian hoạt động về sau này, ông có được tiếp cận thêm về lý thuyết cách mạng nhưng vẫn đi theo con đường đã chọn. Ông đến Liên Xô sau khi Lê nin đã qua đời. Chủ nghĩa Mác - Lê nin đã bị Stalin hóa. Về thực chất, Chủ nghĩa xã hội ở Liên Xô là chủ nghĩa tư bản nhà nước, còn chủ nghĩa vô sản quốc tế đã trở thành chiếc bình phong để bảo vệ Liên Xô và bảo vệ sự bành trướng của chủ nghĩa dân tộc Xô Viết. Thể chế chính trị ở Liên Xô là sự nối dài của chế độ phong kiến, độc tài. Nó từng là vũ khí hiệu nghiệm để cướp chính quyền ở nước Nga lạc hậu nhưng lại bất lực trong phát triển. Vì thế sự lựa chọn chính trị của ông Hồ là sự lựa chọn bất toàn, không thề coi là sự lựa chọn tuyệt đối đúng để chuyển giao cho các thế hệ sau phải trung thành đi theo. Người ta có câu hỏi: nếu các thế hệ sau từ chối không tiếp nhận sự chuyển giao cái cẩm nang ấy thì Hồ Chí Minh còn đi theo họ làm gì?
Áp dụng sự lựa chọn của ông, Việt Nam đã giành được độc lập cho dân tộc với các hình thức đấu tranh bạo lực, chiến tranh nhưng đã thất bại toàn diện trong quá trình xây dựng trong hòa bình từ hơn một nửa thế kỷ nay. Sự lựa chọn của ông rõ ràng không phải là cái cẩm nang thần kỳ chỉ đường cho nhân dân ta đến được thiên đàng hạ giới như những bức tranh đẹp lộng lẫy, do những nhà ảo thuật tuyên giáo cộng sản vẽ ra, càng không thể dựa vào đó để nói bừa là con đường do nhân dân ta đã tự chọn. Bình tâm suy nghĩ, chúng ta có thể nhận ra nguyên nhân dẫn đến sự lựa chọn bất toàn của ông Hồ đã được quy định bởi chính cái tạng văn hóa của ông:
- Ông là người rất ưa thực tế, không thích lý luận. Được thúc đẩy bởi vấn đề bức xúc của đất nước là độc lập dân tộc, ông cảm thấy lời hứa hẹn của Đệ tam quốc tế là rõ rệt và triệt để, khác với các thế lực khác như Mỹ, Nhật nên ông chấp nhận. Chủ nghĩa Lê nin lúc đó thu hút ông chủ yếu vì nó đồng nghĩa với giải phóng dân tộc, ngoài ra ông không suy nghĩ thêm điều gì tiềm ẩn xâu xa ở chủ nghĩa này. Sau này, khi làm Chủ tịch nước VNDCCH, cách lãnh đạo của ông, kể từ nói năng đến hành động cũng luôn luôn cố tránh những vấn đề phải lập luận, đụng đến các học thuyết trìu tượng.
- Ông cũng là người giàu tình cảm. Đọc bài báo của Lê nin nói về vấn đề thuộc địa, ông cho biết đã khóc lên vì sung sướng và tin ngay lời hứa của Lê nin. Sau này được biết thêm chủ nghĩa cộng sản hứa hẹn sẽ chấm dứt những khốn khổ của người lao động bị áp bức ông càng tin chủ nghĩa Mác - Lê nin hơn. Tuy vậy, ở ông Hồ, khát vọng độc lập cho dân tộc được gắn với mong mỏi đấu tranh cho một xã hội công bằng, nhân đạo mà ông đã chịu ảnh hưởng ở nước Pháp nên đầu óc thực tế của ông không trở thành đầu óc thực dụng tầm thường. Ông chọn theo Lê nin còn vì nhu cầu có một người thầy tinh thần kiểu Phương Đông.
Tất cả những thuộc tính nói trên ở ông đã quy định sự lựa chọn của ông với tất cả ưu điểm và nhược điểm của sự lựa chọn đó. Những người ca tụng ông chỉ nói đến những cái ưu trong sự lựa chọn đó mà không nói đến những cái nhược của ông:
+ Cái Trí của ông đã không đi theo kịp cái Tâm của ông,
+ Ông chưa có tinh thần tự phản tỉnh để can đảm nhìn lại toàn diện con đường mà ông đã chọn và đi theo.
Trong thời gian hoạt động bí mật, phải sống trong Dân, cần được Dân che chở thì cái ưu của ông đã phát huy hiệu quả và cái nhược chưa có dịp bộc lộ. Tính chất trong sạch lý tưởng, hy sinh cho nghĩa lớn của ông và những học trò lớp đầu tiên của ông là có thật. Nhờ đó mà Đảng do ông lập ra đã được đại đa số nông dân ủng hộ, góp sinh mạng và tài sản cho cuộc đấu tranh giải phóng dân tộc. Đó là nguyên nhân chủ yếu đưa đến chiến thắng những đế quốc hùng mạnh đã đến thống trị ở Việt Nam, không chỉ là những nguyên nhân về thủ đoạn và chiến thuật. So sánh một cách công bằng, vì nguyên nhân đó, Đảng do ông lập ra đã vượt trội so với những lực lượng chính trị yêu nước khác cùng hoạt động trong cùng thời kỳ đó
Nhưng trong thời kỳ xây dựng trong hòa bình thì cái nhược đã bộc lộ ra ngày càng rõ rệt: Đấu tố, cải cách ruộng đất đi kèm chỉnh đốn tổ chức đã phá hoại tận nền tảng đạo lý của dân tộc. Hợp tác hóa, phản bội nông dân về ruộng đất. Chỉnh huấn cán bộ, bơm màu đen vào cơ thể Đảng. Đàn áp yêu cầu tự do ngôn luận của giới trí thức văn nghệ sĩ. Khoác lác về cái dân chủ xã hội chủ nghĩa nhưng đối xử với dân tệ hơn cả cường hào ngày trước. Nhà nước hóa toàn bộ hoạt động kinh tế của đất nước làm triệt tiêu hoàn toàn động lực phát triển kinh tế và đẻ ra tham nhũng trong bộ máy nhà nước đến mức bó tay vì đánh tham nhũng là đánh vào Đảng. Những sai lầm này có nguyên nhân nằm ngay trong sự lựa chọn chính trị của ông Hồ. Đó là ông đã vội vàng hợp nhất hai vấn đề hoàn toàn khác nhau về bản chất là giải phóng dân tộc và cách mạng xã hội. Cái ý thức hệ mácxit - lêninit mà ông Hồ đem ghép vào chủ nghĩa dân tộc của ông đã bộc lộ hết tính không tưởng và bất lực của nó. Buộc thực tế phải uốn theo cái ông đã chọn cho Việt Nam, cả ông và Đảng cộng sản của ông đã biến sự lựa chọn đó thành vật cản đường đối với sự phát triển tự nhiên của đất nước.
Thực chất tư tưởng Hồ Chí Minh là gì?
Sau khi xảy ra sự tự sụp đổ ở các nước XHCN Đông Âu (1989) và ở Liên Xô (1991) thì mô hình Lêninit dùng cho các nước nghèo nàn lạc hậu tiến tới thiên đàng đã tỏ ra hoàn toàn thất bại. Đảng cộng sản của ông Hồ buộc phải điều chỉnh đường đi, chuyển nền kinh tế bao cấp, mệnh lệnh sang kinh tế thị trường, mở cửa làm ăn với thế giới tư bản. Trong tình hình đó, khái niệm tư tưởng Hồ Chí Minh ra đời để thích ứng. Đây là sự ứng phó tình thế chứ không phải là sáng kiến hay ho gì. Khi còn sống, ông Hồ từng tự nhận là ông không có tư tưởng gì. Ông nói nếu có một người Châu Á xứng đáng nhận là nhà tư tưởng thì không phải là ông mà là Mao Trạch Đông, vì thế trong Điều lệ ĐLĐVN ở Đại hội 2 đã ghi Chủ nghĩa Mác Lênin và Tư tưởng Mao Trạch Đông là nền tảng tư tưởng của Đảng. Gọi là Tư tưởng Hồ Chí Minh, gán cho ông cái mà ông không có và không muốn nhận, rõ ràng không phải là thượng sách. Nó chẳng làm cho Chủ nghĩa Mác - Lênin phát triển hay được bổ sung. Nó chỉ đánh dấu một bước lùi về ý thức hệ đi cùng với bước lùi về đường lối kinh tế của Đảng cộng sản, mang ý nghĩa thực dụng, bỏ bớt những giáo điều đã bị thời gian chứng minh là không tưởng và bất lực mà ai cũng đã biết, như xóa bỏ tư hữu, công hữu hóa tư liệu sản xuất, đấu tranh giai cấp, chuyên chính vô sản … có sẵn trong Chủ nghĩa Lênin mà ông Hồ đã đem về Việt Nam. Thay vào đó là nhấn mạnh đến lòng yêu nước, truyền thống dân tộc, độc lập tự chủ, nhân ái, hòa hợp …là những khẩu hiệu của chủ nghĩa dân tộc. Nhưng đây chỉ là thủ đoạn thao tác. Trước đây ông Hồ hợp nhất chủ nghĩa Lênin với chủ nghĩa dân tộc thì nay Đảng tách ra, đưa chủ nghĩa dân tộc lên trước, chủ nghĩa Lênin vẩn còn đó nhưng xếp ở phía sau. Còn theo chủ nghĩa Lênin tức là Việt Nam vẫn phải đi tới chủ nghĩa xã hội là giai đoạn đầu của chủ nghĩa cộng sản. Vậy thì Đảng không thể từ bỏ ngón nghề của Stalin và Mao Trạch Đông từng làm là chuyên chế khắc nghiệt, xảo quyệt, giả dối với dân. Vì thế, Đảng hô hào học tập tư tưởng Hồ Chí Minh thực chất là dùng ông Hồ Chí Minh làm cái bung xung chứ tuyệt nhiên không phải thực lòng. Nếu Đảng thực lòng thì phải thay đổi triệt để phương thức lãnh đạo của Đảng, từ bỏ hẳn đường lối nửa vời, từ bỏ hẳn chuyên chính vô sản, thay đổi thể chế, thực hiện dân chủ cho tương xứng với chính sách mở cửa và kinh tế thị trường. Chỉ có làm như thế mới khắc phục được những những ruỗng nát nội tại trong Đảng và trong xã hội, thúc đẩy đất nước phát triển nhanh chóng.
Một Hồ Chí Minh đích thực là một người Việt Nam yêu nước nhưng đồng thời là một người Việt Nam yêu nước kiểu Lênin. Ông đã có công lãnh đạo, đem lại sự tự chủ và thống nhất cho đất nước nhưng ông cũng có tội đã du nhập vào đất nước một học thuyết ngoại lai là chủ nghĩa Mác - Lênin để tác hại của nó còn kéo dài đến tận ngày nay chưa gỡ bỏ được.
Mặc dầu trong những năm 1945 - 1948, Hồ Chí Minh đã nói đến Tự do, Dân chủ nhưng nếu vẫn đi theo chủ nghĩa Lênin thì Hồ Chí Minh không thể là ngọn cờ dân chủ. Vì sao? . Quả thật, Hồ Chí Minh có nói nhiều đến dân chủ nhưng quan niệm về dân chủ của ông rất xa lạ với nội dung dân chủ của thời hiện đại, đặc biệt xa lạ với tính chất giao ước trần tục của sự phân chia và kiểm soát quyền lực, căn cứ vào đó để tổ chức và quản lý đời sống công cộng. Ông không biết đến tính chất độc lập của xã hội công dân đối với nhà nước. Ông cũng không hiểu tính chất quyết định làm nên nhà nước hiện đại là nhà nước phi thiên mệnh, là nhà nước sinh ra từ pháp luật và tồn tại bằng pháp luật. Quan điểm của ông Hồ về mối tương quan giữa nhà nước và nhân dân vẫn là quan điểm của Nho giáo. Cái loại nhân dân mà ông Hồ yêu mến vẫn chỉ là loại xích tử cần được ông dạy dỗ về Luật Trời và phép nước. Đồng thời ông phải lo cho họ cả về những cái vặt như tương cà mắm muối chứ không để họ được tự do và khuyến khích họ sáng tạo. Quan điểm của ông về nhà nước vẫn là thứ nhà nước của những người hiền, của những minh quân như Vua Nghiêu, Vua Thuấn ở nước Trung Hoa cổ đại. Ông có nói đến Pháp chế xã hội chủ nghĩa và nói cán bộ là đầy tớ của dân cũng là nói theo quan điểm ấy. Chúng chỉ là những ý định tốt ban phát từ đấng bề trên. Ông Hồ chọn chủ nghĩa Lênin nhưng ông lại không biết vì sao ban đầu Lênin là một nhà dân chủ, hiểu học thuyết của Marx nhưng rồi Lênin lại làm ngược lại tất cả những gì mà Marx đã hình dung về xã hội tương lai và cuối cùng Lênin thừa nhận rằng ông ta đã làm theo gương một ông Vua Nga độc tài của thế kỷ 18 là Pierre Đại Đế. Ông Hồ chọn chủ nghĩa Lênin còn vì ông cho rằng hành động độc tài của Lênin là trách nhiệm tự nhiên như những minh quân thời trước, nay được thay đổi với khái niệm chuyên chính vô sản của Đảng cộng sản và đó là nền chuyên chế nhân đức và cách mạng từ trên ban xuống. Thần dân muốn được giải phóng, muốn có quyền lực thì phải hết lòng theo Đảng cộng sản vì Đảng là đại biểu cho quyền lợi lâu dài của họ. Đảng được phép làm mọi việc để tạo dựng cuộc đời mới cho họ. Đó là sự chuyên chính của Đảng, của cách mạng. Vì vậy, phải tập trung quyền lực cho Đảng tuyệt đối, vĩnh viễn, không thể chia sẻ quyền lực với ai, không nhân nhượng với ai về chân lý. Kẻ nào có ý định đi ngược lại thì đó là lý lẽ của bọn thù đich, phải thẳng tay trừng trị. Với quan niệm sắt thép về quyền lực như vậy, Lênin đã mở đường cho Stalin vắt cạn kiệt sức lực của người dân Nga, nhằm nhanh chóng công nghiệp hóa nước Nga, còn Hồ Chí Minh thì cùng với Đảng của ông dùng chuyên chính như thế để tích tụ được những hy sinh vô bờ bến của người dân nhằm chiến thắng trong cuộc chiến tranh chống thực dân, giành độc lập thống nhất cho dân tộc. Nhưng còn về dân chủ và bao nhiêu lời hứa khác như bình đẳng, tự do, hạnh phúc … mà Đảng cộng sản đã hứa đem lại cho nhân dân thì tất cả vẫn chỉ là lời hứa, thậm chí còn tệ hơn là đã biến thành những lời dối trá trắng trợn. Chuyên chính vô sản đã trở thành chuyên chính với chính giai cấp vô sản và chuyên chính với nhân dân, Lênin đã mơ hồ nhận ra những hiện tượng suy đồi này vào cuối đời của ông, còn ở Hồ Chí Minh thì mọi việc đều như đã êm xuôi như ván đã đóng thuyền, kéo dài đến tận hôm nay.
Người anh hùng đã để lại cho chúng ta bài học gì?
Đã trải qua ba phần tư thế kỷ, kể từ ngày Hồ Chí Minh giành được quyền lực tối cao, trở thành Chủ tịch nước VNDCCH.
Cùng với những biến chuyển lớn trên thế giới và đất nước, hình ảnh Hồ Chí Minh đối với đất nước đã không còn sáng ngời như khi mới giành được độc lập. Tính chất lý tưởng, cao cả, tuyệt vời mà Đảng cộng sản cố sức tô vẽ cho một Hồ Chí Minh thần thánh đã không chống đỡ nổi những lầm lỗi và những sự việc tầm thường của một Hồ Chí Minh thực tế. Đảng càng thần thánh hóa ông bao nhiêu thì càng gây phản tác dụng bấy nhiêu. Vì vậy, thỏa đáng hơn cả là nên nhìn ông với những gì ông có một cách hiện thực, không phóng đại, không tô vẽ thêm, cũng không thêm bớt và cũng không nên đồng hóa tên ông với toàn bộ chế độ này. Thế giới đã có kinh nghiệm: Tuy rằng Karl Marx có liên quan đến cái thực thể gọi là chủ nghĩa xã hội ở Liên Xô nhưng đổ mọi sai lầm của Liên Xô cho Karl Marx là không thỏa đáng. Đánh giá mối quan hệ giữa Lênin và Stalin cũng nên như vậy. Ở trường hợp Hồ Chí Minh, đừng quên hình ảnh của ông đã từng bị chế độ này tô vẽ bằng mọi cách để huyễn hoặc dân chúng. Và cũng không nên bỏ qua điều tạo nên đặc trưng của Hồ Chí Minh là vai trò của ông trong lịch sử chống ngoại xâm, trong một giai đoạn lịch sử rất đặc biệt của thế kỷ 20, một thế kỷ đầy đổ vỡ, hy vọng và ảo tưởng. Đó là một giai đoạn mà cuộc đấu tranh giành độc lập dân tộc không tách khỏi việc lựa chọn ý thức hệ, hoặc bên này, hoặc bên kia. Thái độ nhìn nhận như thế thích hợp để có những tiếp cận khách quan về lịch sử. Trong thế kỷ thứ 20, thế giới biết đến Việt Nam chủ yếu vẫn là do Việt Nam dưới sự tổ chức và lãnh đạo của Hồ Chí Minh đã đánh bại các thế lực xâm lược, giành lại được độc lập dân tộc. Đối với nhiều người Việt Nam, điều ấy là một trong những lý do để được tự coi là đáng sống.
Nhìn tổng quát thì Hồ Chí Minh là một anh hùng của dân tộc Việt Nam trong thời kỳ chống các thế lực thực dân. Ông là một nhân vật lịch sử. Nhưng đất nước là chuyện của muôn đời. Bài học quan trọng nhất của Hồ Chí Minh để lại là sự lựa chọn của ông về ý thức hệ cho đất nước. Sự lựa chọn chính trị của ông cho đất nước là sự lựa chọn bất toàn. Ông có ý định tốt đẹp muốn đưa nhân dân đến thiên đàng nhưng sự lựa chọn bất toàn đó của ông lại dẫn nhân dân xuống địa ngục. Vì thế không thể để ai cột chặt vận mệnh của đất nước vào sự lựa chọn bất toàn như thế. Bài học này không những để cho những người đang xưng tụng ông suy ngẫm mà còn đáng để cho cả những người đang chống ông cùng suy ngẫm. Họ chống ông nhưng rồi họ có lặp lại sai lầm như ông không./.


Read more…

Contact us