VỀ VỤ ÁN MẸ NẤM- NHƯ QUỲNH

Lê Công Định

Nhà cầm quyền muốn dùng án nặng để nâng giá thương thảo với các chính phủ nước ngoài đưa chị Quỳnh đi. Nên mức án 8-10 năm theo đề nghị của phía công tố có thể hiểu được.
Một lần nữa, ở Việt Nam các vụ án chính trị không đặt ra những vấn đề pháp lý. Vì thế, nếu căn cứ các quy định luật pháp để đánh giá sự việc, chắc chắn câu trả lời sẽ thiếu chính xác.
Tuy nhiên, chỉ ở những xứ cộng sản mới như thế, bởi luật pháp chưa từng được thượng tôn bao giờ.
Read more…

QUỲNH

Trương Duy Nhất
QUỲNH
Vụ án, đúng như tôi đã nói với các luật sư hôm qua: Như mọi án chính trị khác, bị cáo và luật sư có yêu cầu triệu tập người giám định (và cá nhân, tổ chức bị hại - như vụ án tôi, và án Quỳnh hôm nay), nhưng toà sẽ không bao giờ dám triệu tập. Bởi đấy là căn cứ duy nhất họ vin vào kết tội.
Nếu cho triệu tập giám định viên, triệu tập cá nhân và tổ chức được cho là "bị hại", cho đối chất tranh tụng công minh, thì chúng tôi xử họ chứ họ làm sao xử nổi chúng tôi.
Quỳnh ơi! Bất kể bản án thế nào. Tù đày - chỉ làm chúng ta mạnh lên, chứ không khiến chúng ta sợ hãi!
"Có loại tù làm người ta nhục nhã, nhưng có loại tù chỉ khiến họ vinh quang". Tuyên ngôn ấy, anh từng nói trước toà. Đâu chỉ cho anh, cho Quỳnh đấy, và cho tất thảy những bạn tù bất khuất của anh.
truongduynhat.org
Read more…

Người dân Hồng Kông biểu tình đòi dân chủ trước ngày kỷ niệm 20 năm giao trả cho Trung Quốc


Người biểu tình tràn lên đài kỷ niệm trao trả Hồng Kông, treo biểu ngữ đòi dân chủ. (Hình: AP Photo/Kin Cheung)
HỒNG KÔNG (NV) – Cảnh sát Hồng Kông hôm Thứ Tư bắt giữ người biểu tình đòi tự do dân chủ nơi này, gồm cả những người tràn lên một đài kỷ niệm việc Anh giao trả vùng đất này lại cho Trung Quốc, một ngày trước khi Chủ Tịch Nhà Nước Trung Quốc Tập Cận Bình đến để chủ tọa các buổi lễ chào mừng.
Hồng Kông đánh dấu ngày giao trả 1 Tháng Bảy, 1997 vào ngày Thứ Bảy tuần này, trong khi có các lời kêu gọi phải cho dân chúng nơi đây có được tự do dân chủ cùng là sự lo ngại về can dự ngày càng chặt chẽ và công khai của chính quyền Bắc Kinh, bất chấp thỏa thuận “một quốc gia, hai hệ thống” ký kết với Anh khi giao trả, theo bản tin hãng thông tấn Reuters.
Toàn thể Hồng Kông hiện đặt trong tình trạng bố phòng nghiêm ngặt, nhân viên an ninh có mặt khắp nơi, trước khi ông Tập Cận Bình đến nơi này hôm Thứ Năm.
Có khoảng 30 người biểu tình, gồm cả nhà lãnh đạo tranh đấu trẻ Joshua Wong, kéo đến đài kỷ niệm và trương một biểu ngữ màu đen, có hàng chữ đòi cho Hồng Kông được dân chủ hoàn toàn và trả tự do vô điều kiện cho nhà tranh đấu Lưu Hiểu Ba, người từng đoạt giải Nobel Hòa Bình, vừa được phát giác là có bệnh ung thư gan giai đoạn cuối.
Người biểu tình hô khẩu hiệu “Phải có dân chủ ngay lúc này. Thả Lưu Hiểu Ba” và “Chúng tôi không muốn Tập Cận Bình, chúng tôi muốn Lưu Hiểu Ba.”
Cảnh sát tiến vào bắt giữ tất cả những người này, lấy lý do là phá hoại trật tự công cộng.
Vào ngày Thứ Bảy này sẽ có cuộc biểu tình thường niên để đòi dân chủ vào dịp kỷ niệm ngày Hồng Kông được Anh giao trả cho Trung Quốc. (V.Giang)
Read more…

THÔNG ĐIỆP TỪ MÔI TRƯỜNG THIÊN NHIÊN

         

(Bài thuyết trình cho Đại Hội Sa Mạc Huynh Trưởng TNTT tại Hà Tĩnh)
Có nhiều con đường và nhiều cách thế dẫn chúng ta tới việc nhận biết Thiên Chúa. Đối với người Kitô hữu, chúng ta may mắn có hai kiệt tác là hai cuốn sách quan trọng giúp chúng ta tới gần Thiên Chúa, đó là cuốn sách Kinh Thánh và cuốn sách môi trường thiên nhiên. Một cuốn được viết ra bằng chữ và lời, còn một cuốn được viết bằng muôn vật, muôn loài và các tinh tú… Có lẽ, chúng ta thường chú ý nhiều đến đọc cuốn Kinh Thánh, điều đó rất tốt, nhưng thường quên đọc cuốn sách thiên nhiên. Hôm nay, tôi muốn nói đến cuốn sách thứ hai là cuốn sách giúp chúng ta khám phá Thiên Chúa và sống hài hòa với tha nhân.
1- Môi trường thiên nhiên, một kỳ công sáng tạo
Đối với người vô thần, vũ trụ này và con người tự nhiên mà có, là do kết quả ngẫu nhiên của tiến hóa. Nhưng theo cái nhìn của Kitô giáo, vũ trụ bao la và đẹp đẽ này không thể là kết quả ngẫu nhiên, nhưng phải có một bàn tay tài tình của một Nghệ Nhân nào đó làm nên. Bởi lẽ, không có một sản phẩm nào tự nhiên mà có, phải có ai đó làm nên, cũng như không ai có thể tung một nạm chữ mà có thể thành một bài thơ.
Quả thế, một mặt, Kinh Thánh mạc khải cho chúng ta biết rõ nguồn gốc của thế giới này: vũ trụ được Thiên Chúa sáng tạo từ hư vô. Sách Sáng Thế mô tả việc Thiên Chúa tạo dựng lên trái đất, mặt trời, trăng sao, cây cỏ, muông thú và con người trong sáu ngày và “Thiên Chúa đều thấy nó tốt đẹp” (St 1,4-25). Khi nhỏ học giáo lý, tôi thuộc lòng bài thơ này:
“Non kia ai đắp mà cao?
Sông kia ai bới ai đào ma sâu?
Mặt trời sáng chói trăng sao
Ai khôn đem dán nơi cao chín tầng?
Bò dê và các thú rừng
Chim bay, ca lội vẫy vùng đó đây
Cỏ cây bông trái tùy thời
Ai là kẻ có biệt tài dựng nên?
Thưa rằng ấy Đấng Hoàng Thiên
Gọi là Tạo Hóa chính tên Chúa Trời.”
Hơn nữa, Kinh Thánh còn cho biết cách thức Thiên Chúa tạo thành vũ trụ: từ nguyên thủy, Thiên Chúa đã sáng tạo mọi sự bằng Lời và Thần Khí của Người (x. St 1,1-25). Thánh Vịnh diễn tả:
“Một Lời Chúa phán làm ra chín tầng trời, một hơi Chúa thở tạo thành muôn tinh tú” (Tv 33,6).
Riêng con người, Thiên Chúa sáng tạo một cách đặc biệt. Thiên Chúa “lấy bùn đất và nặn ra con người, thổi sinh khí vào lỗ mũi, và con người trở nên một sinh vật” (St 2,7). Con người được tạo dựng từ bùn đất và rồi sẽ trở về bụi đất. Nên con người cũng là thành phần của vũ trụ tự nhiên. Con người là “tiểu vũ trụ” sống hiệp thông và tương tác với “đại vũ trụ.” Nhưng con người cao cả vì được tạo dựng theo hình ảnh Thiên Chúa: “Chúng ta hãy làm ra con người theo hình ảnh chúng ta, giống như chúng ta, để con người làm bá chủ cá biển, chim trời, gia súc, dã thú, tất cả mặt đất và mọi giống vật bò dưới đất” (St 1,26). Như thế, trong thế giới thụ tạo hữu hình, con người có phẩm giá trỗi vượt hơn mọi loài, mọi vật, con người vừa có một vị trí cao nhất vừa là trung tâm của công trình tạo dựng. Thiên Chúa tạo thành mọi sự “vì và cho” con người. Con người được giao phó trách nhiệm làm chủ, bảo vệ, gìn giữ và phát triển công trình tạo dựng theo chương trình của Thiên Chúa.
Mặt khác, thiên nhiên là một kiệt tác, một cuốn sách quý giá mà “những giòng chữ được trình bày bằng những tạo vật trong vũ trụ” không ngừng nói về Thiên Chúa. Thánh Vịnh 19 diễn tả rất hay về điều này:
“Trời xanh tường thuật vinh quang THIÊN CHÚA,
không trung loan báo việc tay Người làm.
Ngày qua mách bảo cho ngày tới,
đêm này kể lại với đêm kia.
Chẳng một lời một lẽ, chẳng nghe thấy âm thanh,
mà tiếng vang đã dội khắp hoàn cầu và thông điệp loan đi tới chân trời góc biển” (Tv 19,1-5).
Nhìn ngắm trời đất và tinh tú khiến chúng ta phải ngạc nhiên và thán phục quyền năng thần linh như một Thánh Thi diễn tả:
“Hùng vĩ quá, khiến phàm nhân tắc lưỡi !
Thượng trí nào ra định luật đổi thay,
Hết tối đêm xoay chuyển lại sáng ngày,
Tay Tạo Hoá đã tài tình xếp đặt !”

Môi trường thiên nhiên là tấm gương phản ánh vẻ đẹp, quyền năng và vinh quang Thiên Chúa, đồng thời là cuốn sách giúp chúng ta khám phá thương vô tận, sự âu yếm và sự quan phòng của Thiên Chúa dành cho chúng ta. Mỗi tạo vật đều là đối tượng lòng ưu ái của Thiên Chúa, Đấng ban cho nó một vị trí trong thế giới, ngay cả nhưng sinh vật nhỏ bé nhất cũng là đối tượng của tình yêu Thiên Chúa. Thánh Basiliô Cả nói: “Đấng Sáng Tạo là tình yêu vô bờ bến.” Còn văn hào Dante Alighieri cho rằng: “Tình yêu làm chuyển động mặt trời và các ngôi sao.” Vì thế, từ những công trình đã được tạo dựng, người ta hướng đến “lòng thương xót của Đấng tràn đầy tình yêu.”[1]
Guagarin, phi hành gia Liên Xô cũ, khi trở về từ chuyến du hành vào vũ trụ, đã tuyên bố: “Tôi không thấy Thiên Chúa ở đâu cả!” Ông không nhìn thấy Thiên Chúa bởi vì ông thiếu cặp mắt đức tin. Ngay nay vẫn còn biết bao nhiêu người mù lòa đức tin như ông trước vẽ đẹp và trật tự vũ trũ này.
Trong khi đó, phần lớn các nhà khoa học là những người tin vào Thiên Chúa. Pasteur, một nhà khoa học Pháp, nói rằng: “Nhờ việc nghiên cứu và suy niệm rất nhiều mà tôi mới có đức tin như một người nông dân ở Breton.” Nhà khoa học vĩ đại Newton khi nghiên cứu các hành tinh đã có một câu nói để đời: “Tôi thấy Thiên Chúa đi qua ống kính viễn vọng của tôi.”
Như thế, vũ trụ thiên nhiên này là cuốn sách tuyệt với giúp chúng ta khám phá Thiên Chúa là Đấng sáng tạo, quan phòng và yêu thương.
2- Môi trường thiên nhiên, một kỳ công tái tạo
Nếu trong Cựu Ước, Thiên Chúa được trình bày như là Đấng sáng tạo và quan phòng thế giới tự nhiên này, thì trong Tân Ước, Đức Giêsu xuất hiện như là Đấng tái tạo và cứu chuộc môi trường thiên nhiên.
Quả thế, nếu từ nguyên thủy, Thiên Chúa sáng tạo vũ trụ nhờ Lời và Thần Khí, thì nay thật ngạc nhiên, Ngôi Lời “đã hóa thành nhục thể” (Ga 1,14). Một Ngôi Vị của Ba Ngôi Thiên Chúa tự hội nhập vào vũ trụ tạo thành và đã liên kết với mọi tạo vật. “Người giống chúng ta mọi sự, ngoại trừ tội lỗi” (Dt 4,15).
Với mầu nhiệm nhập thể, Thiên Chúa đã đi vào môi trường tự nhiên. “Đức Giêsu Kitô đã mang lấy thân phận con người để nối kết trời với đất, vô hạn với hữu hạn, vĩnh cửu với thời gian, thánh thiêng với tội lỗi, ‘môi trường Thiên Chúa’ với ‘môi trường thiên nhiên’.”[2] Đức Giêsu mang lấy những yếu tố thuộc môi trường tự nhiên để tái tạo thế giới vật chất này theo trật tự của Thiên Chúa.
Hơn nữa, Đức Giêsu đã sống hòa hợp với mối tương quan “thiên – địa – nhân tương dữ” một cách tuyệt vời. Khác với nhiều triết gia chủ trương khinh rẻ thân xác, vật chất và mọi thứ trần gian, Đức Giêsu không xuất hiện như một ẩn tu xa lìa thế giới hay thù ghét những gì thích hợp cho cuộc sống. Người nói: “Con người đến, cũng ăn cũng uống như ai” (Mt 11,19). Đức Giêsu cũng hít thở không khí, dầm mưa, giãi nắng; Người đã lao động với đôi bàn tay, va chạm trực tiếp hằng ngày với vật chất để sinh sống và biến đổi chúng. Người còn dạy các môn đệ cũng phải sống như vậy đối với thiên nhiên.
Trong giáo huấn của mình, Đức Giêsu nhấn mạnh điều căn bản: Thiên Chúa là Cha và là Đấng Sáng Tạo của mọi loài (x. Mt 11,25). Người còn mạc khải cho chúng ta biết rằng mỗi thụ tạo rất quan trong mắt Người, để chúng ta có thái độ tín thác vào sự quan phòng của Thiên Chúa: “Năm con chim sẻ chỉ bán được hai hào phải không? Thế mà không một con chim nào bị bỏ quên trước mặt Thiên Chúa” (Lc 12,6). “Hãy xem chim trời: chúng không gieo, không gặt, không thu tích vào kho; thế mà Cha anh em trên trời vẫn nuôi chúng” (Mt 6,26).
Đặc biệt với mầu nhiệm tử nạn và phục sinh, Chúa Kitô đã tái tạo và biến đổi vật chất nên vinh hiển, đồng thời mang thế giới vật chất này vào môi trường Thiên Chúa. Về điều này, thánh Phaolô quả quyết: “Vì Thiên Chúa đã muốn làm cho tất cả sự viên mãn hiện diện ở nơi Người, cũng như muốn nhờ Người mà làm cho muôn vật được hòa giải với mình. Nhờ máu Người đổ ra trên thập giá, Thiên Chúa đã đem lại bình an cho mọi loài dưới đất và muôn vật trên trời” (x. Cl 1,19-20). “Theo các thức này, mọi vật trên trần gian xuất hiện trước mắt chúng ta không phải như những thực tại tự nhiên, nhưng Đấng Phục Sinh ôm lấy chúng và hướng chúng đến một định mệnh tròn đầy. Cũng như cánh hoa ngoài đồng và chim chóc, được nhìn với con mắt đầy kinh ngạc, thì bây giờ lại được tràn đầy sự hiện diện sáng chói của Người.”[3]
Đức Giêsu mạc khải cho biết cùng đích của môi trường và con người không phải là tới sự hủy diệt và hư vô, nhưng là hướng tới sự viên mãn, thành toàn và trở nên vinh hiển trong Trời Mới, Đất Mới. Sự viên mãn và sự thành toàn này sẽ được bày tỏ cách đầy đủ trong ngày sau hết khi Thiên Chúa đưa thời gian tới hồi viên mãn.
Nếu chúng ta ý thức rằng tất cả những gì hiện hữu đều phản ánh Thiên Chúa, chúng ta sẽ thay cho tất cả thụ tạo và cùng với chúng tôn thờ Thiên Chúa như thánh Phanxicô Assisi đã làm trong bài ca Tạo Vật. Thánh nhân coi vũ trũ là một gia đình, trong đó trái đất là mẹ, mặt trăng, mặt trời, gió, nước là anh chị của con người: “Con chúc tụng Chúa, lạy Chúa của con! Vì người chị của chúng con, người mẹ trái đất của chúng con, mẹ nâng đỡ chúng con và mang lại nhiều hoa trái, những bông hao tươi đẹp, những cây cỏ xanh tươi.”[4]
3- Thực trạng ô nhiễm môi trường và trách nhiệm của chúng ta
Như đã nói trên, môi trường là vấn đề sống còn của con người. Môi trường sống, con người sống. Môi trường chết, con người chết. Hơn bao giờ hết, môi trường thiên nhiên hiện nay ở Việt Nam đang bị bóc lột, khai thác và tàn phá một cách vô trách nhiệm và vô tội vạ. Gần đây chúng ta chứng kiến những cảnh tượng thật đau lòng: Nạn chặt phá hàng loạt cây xanh ở Hà Nội; nạn phá rừng xảy ra ở các dãy núi Trường Sơn; nạn vứt rác bừa bãi xảy ra ở nơi công cộng, trên bãi biển, trong công viên; nạn sản xuất, buôn bán thực phẩm bẩn và chứa độc tố; nạn khai thác bừa bãi các dãy núi đá vốn đẹp như bức tranh nay bị lở loét như ở Hồng Lĩnh – Hà Tĩnh; nạn xả thải các chất độc vào biển, vào sông ngòi và không khí như nhà máy Formosa ở Kỳ Anh v.v…
Thay vì cộng tác với Tạo Hóa để giúp thiên nhiên phát triển hài hòa, con người đã “hành hạ” và “bức tử” thiên nhiên.[5] Phản ánh thực trạng xã hội Việt Nam trong đó có vấn đề môi trường đang bị bức tử, cô giáo Trần Thị Lam, giáo viên trường chuyên Hà Tĩnh có những câu thơ đầy chất ngôn sứ:
“Đất nước mình buồn quá phải không anh
Biển bạc, rừng xanh, cánh đồng lúa biếc
Rừng đã hết và biển thì đang chết
Những con thuyền nằm nhớ sóng khơi xa…”[6]
Khi môi trường bị phá hoại và bị ô nhiễm sẽ gây ra nhiều thảm họa khôn lường. Đối với thiên nhiên, trái đất nóng lên, biến đổi khí hậu, bão lụt gia tăng… thiên nhiên sẽ nổi giận và trừng phạt con người. Các loài sinh vật dần dần biết mất. Đối với mỗi người, môi trường ô nhiễm sẽ ảnh hưởng trực tiếp đến sức khỏe và sự sống còn của con người, bệnh tật gia tăng, kinh tế khủng hoảng, thất nghiệp, các ngành sản xuất, chế biến và du lịch sẽ khốn đốn, đời sống tâm lý, văn hóa và tâm linh của con người trở nên bất an. Con người không thể sống vui, khỏe và hạnh phúc, nhưng sẽ chết dần, chết mòn. Đối với xã hội, khi môi trường thiên nhiên ô nhiễm, môi trường xã hội sẽ bất ổn và rối loạn về cơ cấu tổ chức cũng như hệ thống chính trị. Xã hội và đất nước không thể phát triển bền vững.
Môi trường ô nhiễm, tại họa sẽ ập tới và gõ cửa từng nhà, không trừ một ai. Chúng ta nơm nớp lo sợ cho tương lai. Chúng ta sống trong môi trường xã hội nhưng quên mất một điều chúng ta được mẹ thiên nhiên bao bọc và nuôi dưỡng. Khi mẹ thiên nhiên nổi giận thì không có biệt lệ cho bất kì ai.
Có nhiều nguyên nhân dẫn đến việc phá hoại môi trường: do thiếu ý thức bảo vệ môi trường; do lòng ích kỷ vô độ vì lợi ích cá nhân cũng như lợi ích nhóm; do lạm dụng quyền hạn và công nghệ khoa học – kỷ thuật khi khai thác thiên nhiên; do hệ thống quản lý lỏng lẻo và vô trách nhiệm trong việc bảo vệ môi trường.
Trước vấn đề ô nhiễm môi trường, Đức Giáo Hoàng Phanxicô quả quyết trong Thông điệp Laudato Sí rằng: “Tội chống lại tự nhiên cũng là tội chống lại chúng ta và là tội chống lại Thiên Chúa.”[7] Vì thế, mọi hình thức làm cho môi trường thiên nhiên bị ô nhiễm đều là tội ác. Chăm sóc và bảo vệ sự sống “ngôi nhà chung của mọi người” là lệnh truyền của Thiên Chúa và là trách nhiệm của mọi người. Vô can trước vấn đề môi trường cũng là một tội ác.
Sự hèn nhát, sự sợ hãi, sự dửng dưng, vô cảm đã biến chúng ta thành những kẻ đồng lõa với cái ác. Chúng ta đã phản bội thiên nhiên, phản bội quê hương và cái giá chúng ta phải trả là môi trường sống của chính mình bị đầu độc, là sức khoẻ, sinh mạng, sự tồn vong của nòi giống. Chúng ta vô cảm. Chúng ta hèn nhát khi môi trường ô nhiễm mà không dám lên tiếng và chung tay bảo vệ. Cho đến một ngày chúng ta hoảng sợ nhận ra rằng, mâm cơm nhà mình đã thiếu khuyết đi món ăn từ biển, hạt muối ta ăn không biết có an toàn, món rau không thể không chấm nước mắm… mùa hè ta đến biển chỉ để đứng trên bờ ngắm nhìn những con sóng.
Tất cả chúng ta cần có một “cuộc hoán cải môi sinh.” Nghĩa là phải thay đổi lối sống, thái độ và cách hành xử đối với thiên nhiên. Chúng ta hãy sống có trách nhiệm và thân thiện với mẹ thiên nhiên.
 “Vì môi trường xanh – sạch – đẹp” và vì sự sống còn của các thế hệ, chúng ta thực hành những việc làm cụ thể sau đây:
– Không vứt rác, xả thải bừa bãi nhưng biết nhặt rác và giữ vệ sinh sạch sẽ nơi công cộng cũng như nơi nhà riêng.
– Không sản xuất và buôn bán thực phẩm bẩn cho người khác chỉ vì lợi ích kinh tế.
– Không chặt cây xanh, đốt phá rừng.
– Không đánh bắt chim, cá bằng những phương tiện hủy diệt hàng loạt các loài vật khác.
– Giáo dục và giúp người khác cũng biết ý thức bảo vệ môi trường…
Bao lâu việc chăm sóc và bảo vệ môi trường thiên nhiên chưa trở thành nếp sống của chúng ta, bấy lâu môi trường thiên nhiên vẫn còn bị đe dọa, đối xử bất cẩn và vô trách nhiệm, nếu như thế, tương lai của chúng ta và các thế hệ kế tiếp sẽ đi về đâu?
Trân trọng cảm ơn tất cả!
Lm. Phêrô Nguyễn Văn Hương
[1] x. ĐHG. Phanxicô, (Lm. Augustinô Nguyễn Văn Trinh dịch) Thông điệp về Chăm sóc ngôi nhà chung Laudato Sí, Nxb. Tôn Giáo, 2015, số 77.
[2] ĐGM. Phêrô Nguyễn Văn Viên, Bài nói chuyện với giới trẻ giáo tỉnh Hà Nội tại giáo phận Vinh, ngày 17/9/2017.
[3] ĐGH. Phanxicô, Laudato Sí, sđd., số 100.
[4] Ibidem, số 87.
[5] x. ĐGM. Phaolô Nguyễn Thái Hợp, Một cái nhìn về Giáo huấn xã hội Công giáo, Nxb. Phương Đông, 2010.
[6] Cô giáo Trần Thị Lam sáng tác bài thơ tựa đề: “Đất nước mình ngộ quá phải không anh?” năm 2016.
[7] ĐGH. Phanxicô, Laudato Sí, sđd., số 8.
Read more…

Khán phòng tòa án xôn xao trước tin Phương Nga được tại ngoại

 Phiên xử buổi chiều chưa bắt đầu nhưng cả khán phòng xôn xao trước thông tin hoa hậu Phương Nga và người bạn Thùy Dung được tại ngoại do tòa thay đổi biện pháp ngăn chặn.

 
16h24: Phiên tòa kết thúc
Cầm trên tay búp bê may mắn, bà Hồ Mai Phương hạnh phúc rớt nước mắt cám ơn luật sư Phạm Công Hùng, các cơ quan báo chí, dư luận đã đồng hành với hai mẹ con bà trong suốt quá trình của vụ án.
Trương Hồ Phương Nga, Cao Toàn Mỹ, hợp đồng tình ái, hoa hậu phương nga
Niềm vui của bà Hồ Mai Phương khi con gái được tại ngoại  
Nhân chứng Lữ Minh Nghĩa cũng vui mừng không kém, Nghĩa cho hay không biết bày tỏ cảm xúc thế nào chỉ biết rất hạnh phúc khi sau 2 năm 3 tháng Nga và Dung đã được tại ngoại.
16h19: Chủ tọa phiên tòa thay mặt HĐXX công bố quyết định yêu cầu điều tra bổ sung. "Xét thấy cần xem xét những chứng cứ tài liệu mà không thể xem xét tại tòa nên HĐXX quyết định trả hồ sơ vụ án hình sự để điều tra làm rõ các vấn đề sau: Tại phiên tòa bị cáo Nga và Dung khai rằng đây là số tiền do quan hệ tình cảm mà ông Mỹ chuyển cho Nga còn ông Mỹ khai rằng đây là số tiền ông Mỹ nhờ mua nhà.
Trương Hồ Phương Nga, Cao Toàn Mỹ, hợp đồng tình ái, hoa hậu phương nga
Nụ cười của hoa hậu Phương Nga khi HĐXX tuyên bố cô và Thùy Dung được tại ngoại   
Quá trình điều tra cần chứng minh, Thùy Dung tham gia với vai trò gì? Quá trình điều tra không xác định được số tiền 16,5 tỷ đồng không phải là tiền mua bán nhà thì cần xác minh ai là người xác lập các biên bản mua bán nhà nhằm mục đích gì?
Điều tra thông tin một số thông tin ở các khách sạn do luật sư cung cấp để xác minh, xem xét việc vi phạm quy định hôn nhân một vợ một chồng. Cho Nga truy xuất vào email của Nga để xem xét thời điểm tạo lập các bức thư. Lữ Minh Nghĩa cung cấp số điện thoại của Nguyễn Mai Phương và đối tượng Nghĩa trong trại để thông cung. Làm rõ lời khai của Thùy Dung về những lần nhận thư có sự chứng kiến của hai người bạn cùng phòng.
Làm rõ tính khách quan của hai bản khai của bị cáo Nga và ông Mỹ, dù thời điểm khác nhau nhưng về nội dung giống nhau từ dấu chấm, dấu phẩy. Làm rõ có hay không vi phạm hoạt động tư pháp. Làm rõ những lần xuất cảnh của ông Mỹ và Nga khi ông Mỹ cho rằng chỉ là tình cờ.
16h13: HĐXX bắt đầu làm việc
Chủ tọa công bố sau khi nghiên cứu hồ sơ thẩm hình sự, HĐXX quyết định thay thế biện pháp tạm giam đối với bị cáo Trương Hồ Phương Nga, cấm đi khỏi nơi cư trú với bị cáo Nga.
  
Nghe công bố này, bà Hồ Mai Phương bật khóc vì vui mừng.
Chủ tọa cũng đọc quyết định thay đổi biện pháp tạm giam đối với Nguyễn Đức Thùy Dung, cấm đi khỏi nơi cư trú đối với bị cáo Dung.
15h30: Luật sư Phạm Công Hùng cho biết, đã nghe thông tin về việc Nga được tại ngoại, nếu điều này đúng là sự thật thì quá vui mừng.
Bà Hồ Phương Nga cũng tỏ ra vui mừng trước thông tin này. Bà cho hay" cảm giác như vỡ tung lồng ngực vì quá hạnh phúc".
Trương Hồ Phương Nga, Cao Toàn Mỹ, hợp đồng tình ái, hoa hậu phương nga
Khán phòng tòa án lúc 16h02 
Đã gần 16h (quá 1 giờ so với thông báo) phiên xử vẫn chưa được tiếp tục nhưng không khí trong phòng xét xư vẫn không hề giảm nhiệt. Dù khá nóng nực nhưng những người tới theo dõi phiên tòa không có ý định bỏ về, thậm chí không ai dám ra khỏi chỗ ngồi vì sợ...mất chỗ.
Trương Hồ Phương Nga, Cao Toàn Mỹ, hợp đồng tình ái, hoa hậu phương nga

Trương Hồ Phương Nga, Cao Toàn Mỹ, hợp đồng tình ái, hoa hậu phương nga
Trương Hồ Phương Nga, Cao Toàn Mỹ, hợp đồng tình ái, hoa hậu phương nga
Nhóm phóng viên
Read more…

Nỗi niềm gối trắng

- Truyện ngắn: Dạ Ngân 

Lột áo gối ngâm giặt, xẻ mình gối ra, gòn cũ bị moi bỏ hoặc là đem phơi cho phồng lên. Và gòn mới sẽ được thay thế, thứ gòn thơm thơm, hết sức tự nhiên, dễ chịu. Lũ gối của chị như đám trẻ được sắm bộ cánh Tết, nằm la liệt trên giường. Còn vì khi làm, chị gửi gắm vào đó biết bao điều của tâm tư và sự chịu đựng hàng nửa thế kỷ của một người trời cho dung hạnh thì trời cũng gây ra cơ sự để thử thách dung hạnh ấy. 

                     
Kết quả hình ảnh cho chiếc gối trắng
Những cây gòn ở xứ này là cây thổ cư chứ không phải cây hàng hóa. Như cây gừa để giữ bến, cây ô môi để ngắm bông, cây mù u để làm thớt, cây trâm bầu để làm cầu khỉ…Ai ăn ở cầu kỳ mới trồng một cây gòn, một cây duy nhất, ở góc vườn. Mùa bông vào những tháng nắng, nhìn từ xa, trái gòn như những cánh dơi treo mình lủng lẳng trong gió. Trái lần lượt rụng xuống, người ta đem phơi cả trái, đựng trong bồ hay trong cần xé, trong bao bố. Ngày nông nhàn đưa gòn ra bóc, bỏ hột đi, bông gòn lại vô bao đem phơi cho đượm nắng. Sau đó gòn làm gối, làm nệm, năm nào cũng tự túc gòn nên trên giường của dân quê xứ này ngoài gối nằm còn có cả những chiếc gối ôm căng tròn.
Thực ra câu chuyện không liên quan đến những cây gòn, phát (đúng ra, phải viết là phác) họa sơ sơ để các bạn hình dung tiếp. Hãy hình dung một người phụ nữ có thói quen đến Tết thì tỉa tắn lũ gối nhà mình. Bây giờ nhà phố thị, không khoảnh vườn thổ cư nói chi đến cây gòn. Nhưng chị đâu thiếu cách. Chị dặn trước những vựa gối ngoài chợ và họ luôn dành cho chị những túi bông gòn tự nhên. Chị cắp rắp chở về, chị không biết đi xe máy, chị chở cái gói lùng nhùng ấy bằng xe đạp. Lột áo gối ngâm giặt, xẻ mình gối ra, gòn cũ bị moi bỏ hoặc là đem phơi cho phồng lên. Và gòn mới sẽ được thay thế, thứ gòn thơm thơm, hết sức tự nhiên, dễ chịu. Lũ gối của chị như đám trẻ được sắm bộ cánh Tết, nằm la liệt trên giường. Còn vì khi làm, chị gửi gắm vào đó biết bao điều của tâm tư và sự chịu đựng hàng nửa thế kỷ của một người trời cho dung hạnh thì trời cũng gây ra cơ sự để thử thách dung hạnh ấy.
"Em nghĩ coi, chị không ôm gối thì chị ôm cái gì!" Không ít lần chị gào khan với tôi như vậy khi tôi cất lời khen hoặc là liếc nhìn đám gối trắng muốt, chật cả cái giường muôn thuở ngăn nắp của chị. Tôi thấy như bị một quả vào ngực, chị đâu có thụi, chị đâu có làm gì, chỉ nói cái câu ấy thôi mà tôi thấy tức thở. Giá như hồi đó anh cứ bò lồm cồm như mọi người vô công sự, giá như anh đừng quá cẩn thận mà nằm xuống rồi toài ngửa qua miệng hầm. Giá như…
Bạn ơi, hồi ấy chị nhan sắc thật chứ không phải cái vang bóng của nhan sắc. Gái miệt vườn Phong Điền trắng trẻo từ nước da tới cung cách. Mặt hơi vuông cứng cỏi chứ đâu có yếu đuối trái xoan. Tuổi thanh xuân cuốn chị vào dòng chảy như lục bình vừa đi vừa trổ bông tím. Anh đã chờ sẵn ở đâu đó trên những nẻo đường, người đời gọi là duyên phận ấy mà. Anh cũng đâu có thua kém, rắn chắc, ân cần, hào hoa, cũng là trai miệt vườn cùng huyện khác xã. Tôi mới tuổi thiếu nữ lóng ngóng bưng biền, chị và anh đã là “cặp đôi vàng” với ý nghĩa tươi đẹp nhất dù hồi ấy chưa ai biết cách nói hào nhoáng này.
"Em nghĩ coi, tóc chị không bạc phừng mới là lạ!" Không ít lần chị lại gào khan như vậy đó. Chị bạc tóc sớm một cách khác thường, chừng như ngay sau năm 1975 thì đã bắt đầu bạc lem luốc. Khi ấy chị mới ba mươi lăm tuổi. Không thể can dự bằng bất kỳ loại thuốc nhuộm nào, đơn giản vì mất công mà vẫn không giải quyết được căn nguyên. Tôi lại thấy mình bị thụi vào ngực và tức thở. Giá như hồi đó anh cứ bò lồm cồm vô công sự, ở đây anh đã cẩn trọng nằm ngửa ra rồi chùi người qua miệng hầm. Giá như…
Tôi nghe danh chị và anh trước khi biết mặt hai người. Chị và anh làm cùng một tiểu ban. Đẹp đôi nhất thế gian, người đời trầm trồ vậy, bởi vì nhìn tổng thể không đôi nào hơn họ. Nhưng rồi… Giá như hôm đó anh đừng quá cẩn trọng mà nằm ngửa rồi mới toài vô miệng công sự. Giá như…Chị hay đi đến nhà một người nông dân trên bờ kinh kháng chiến, chỗ chị gởi hai đứa con gái sinh đôi nhờ họ chăm sóc. Hôm ấy chị ở chỗ các con nhỏ. Vết thương không nguy kịch cho anh nhưng quá hiểm. Một mảnh bom oan nghiệt. Chị và anh, chị là một nhan sắc còn anh là một người chồng tuyệt vời. Tôi không chứng kiến mọi chuyện, khi tôi đã cùng một hàng ngũ với chị và anh thì chị đã gởi con về cho gia đình ở Phong Điền để toàn tâm trong Quân y viện với anh. Và chị về tiểu ban cũ, anh được điều động sang tiểu ban chỗ tôi vừa đầu quân, nghe nói là theo nguyện vọng của anh, chị và anh cần một khoảng cách. Để làm gì, ai cũng băn khoăn và ai cũng hiểu, anh không làm chồng được nữa thì ở bên cạnh vợ làm gì!
Trực diện anh chỉ một ngày, tôi biết anh thuộc típ người lý tưởng cho mọi phụ nữ mưu cầu hạnh phúc. Chắc đậm, khuôn miệng vui, ánh nhìn điềm đạm, cách nói mực thước, đôi tay siêng năng… Đã có thể hình dung anh và chị tương đồng hòa hợp như thế nào để tiếng thơm lan tỏa dường ấy. Nhưng da anh bắt đầu tái sạm, bộ dạng ngập ngừng và tiếng cười không giòn như đáng ra phải rất giòn ở một người nhiều phẩm chất và tiếng vang. Thêm vài hôm nữa thì tôi thấy anh hay ngồi vót một mớ que tre ngắn quấn gòn một đầu rồi buộc thành từng nắm nhỏ. Hỏi, anh trả lời không do dự "Anh bị táo bón kinh niên, mình cần đồ ăn có chất xơ như khoai lang, đu đủ mà ở đây làm gì có. Mỗi lần đi anh phải trợ mấy cái que nầy". Rùng mình nhưng vẫn không hình dung được. Không sao hình dung được vết phang oan nghiệt của mảnh bom ấy và vết thương phạm xuống hậu môn ra sao. Nhưng thấy rõ chị vật vã, bất hạnh, hàng đêm, chị và anh, chị nhan sắc anh tuyệt vời mà giờ thì vậy đó! Giá như…
Một cái gối ôm cho người đi kháng chiến, không thể. Phụ nữ chúng tôi gối đầu bằng nhật ký, vài ba quyển vở linh tinh và ôm thùng sắt chiến lợi phẩm nguyên là thùng đạn đại liên rất kín và chắc. Cái thùng có dây đai để mang chéo người khi hành quân bộ, có thể ấn sâu nó xuống bùn trước khi mình chui xuống hầm bí mật và bên trong thùng là tất cả những thứ cần cho một cá nhân: mùng lưới màu nhà binh, võng vải nilon, vài bộ quần áo sơ sài, gương lược, kem đánh răng, bàn chải, chấm hết. Bạn tò mò khăn khíu đâu ư, thì khăn là tấm vải dù bông cũng hàng chiến lợi phẩm bất ly thân trên lưng để ngụy trang, trên cổ là chiếc khăn rằn để tắm, thay thiệm và cả giữ ấm hoặc phủi muỗi. Tôi ôm chiếc thùng sắt cứng lạnh mỗi khi nằm nghiêng và hình dung người bạn vong niên đáng thương của tôi cũng nằm và ôm thùng như vậy mỗi khi thao thức nhớ người đàn ông tuyệt vời của mình. Không ai chia cắt họ, chỉ vì chính họ cũng thấy bỏ thì thương mà vương thì tội, thế thôi.
Anh hay một mình một xuồng trở lại chỗ vợ. Chiều tối đi, khuya quay về, sớm mai đã có mặt, như cũ. Nhưng sau mỗi lần như vậy anh không hoàn toàn như cũ được. Người mất tự tin thêm, da dẻ tái thêm, mặt mày ủ ê thêm. Các chú đứng tuổi ở cơ quan ý tứ im lặng, tránh hỏi han, mà hỏi gì bây giờ, chẳng lẽ hỏi tụi bây gặp nhau có vui không ư? Sau lưng anh các chú cũng chỉ bàn luận ngập ngừng “Gặp thì chỉ có nước ôm nhau mà khóc!” Tôi không hình dung anh khóc ra sao, hay anh ghì vợ vào ngực và lắng nghe chị khóc. Mà khóc mãi thì cũng cạn nước mắt chứ. Và không hình dung anh khóc thế nào, vì hàng ngày, nhìn nghiêng nhìn thẳng gì cũng thấy khuôn miệng ít khi động đậy khiến chung quanh anh một không khí thường trực ưu uất.
Chị ít khi sang với anh nhưng đã sang thì ở lại vài ba ngày. Một chàng trai tên Liền đứng lái chèo xuồng giúp. Chị ngồi ở sạp mũi cầm dầm, nón tai bèo tự may, sống áo tự may, màu vải tối càng tôn nước da đẹp, tóc đàn bà trẻ chảy tràn chấm eo thon. Anh săm sắn bước ra, tươi cười chạm tay mũi xuồng, níu dây buộc vô chạc cây và ngoảnh nhìn tôi nheo mắt tinh nghịch. Số là anh có ý gán ghép tôi với chàng trai tên Liền này, theo anh thì Liền cao to, tóc dợn sóng, Liền cùng lứa cùng đẳng với tôi, quá được. Tôi lại thấy anh chiếu cố Liền, chẳng qua để cho có chuyện tung hứng mỗi khi chị xuất hiện, thế thôi. Tôi không xao xuyến được ngoài cái trẻ và khỏe của anh ta. Liền thường ngồi chơi thêm một lát, luôn hỏi lại chị một lần nữa ngày về bên tiểu ban để chèo xuồng sang đón.
Những ngày phép không chính thức, chị biến tôi thành em gái. Chị bày cho mấy món gọi là bỏ túi trước khi có chồng. Trình tự nêm nếm canh chua, rau thơm cắt cỡ vừa và cho vô nồi khi tắt lửa để rau vẫn giữ được màu xanh; phải cô nước màu ra sao cho nước sệt mà không bị đắng; pha nước mắm ăn cá chiên nhớ để đường vô chén khi giã tỏi giã ớt cho hột ớt đừng bắn lên mắt; bí quyết nấu chè đậu trắng nước cốt dừa là đậu hầm nhừ trước, lột mày, rải đậu dưới đáy rồi khỏa nếp lên nấu sẽ không khét nồi chè…Giọng chị thanh, gót chân sáng, đôi mắt có đuôi, cái miệng duyên duyên và điều quan trọng nhất, chị quá vén khéo khiến đàn ông không khỏi ao ước một người vợ như vậy. Chị ngồi ở đâu thì anh ngồi choàng phía sau để làm giúp và đêm xuống, trên nền liếp sậy có những chiếc mùng san sát nhau, tôi nghe thấy họ chuyện vãn rì rầm, sụt sịt, trở mình soi đèn bắt muỗi, rồi lại rì rầm, sụt sịt.
Bỗng đến tai chúng tôi một chuyện. Chị và Liền. Đêm hôm, sạp xuồng, những lùm cây tối, những cái xẻo dân tản cư để lại hoang liêu, những mét đường gian nan bom đạn, những phút giây tâm tư… Đàn bà và trai tân, gì thì cũng là trai với gái dù là chị gái, chị đã có chồng, chị đã hai con, nhưng chị trống vắng tháng rộng năm dài. Chuyện thành động trời với những ai ưa phán xét. Các chú ở tiểu ban tôi im lặng có chủ ý hơn. Riêng anh thì lại nói nhiều lên, hươu vượn đủ thứ, khi nói thì mắt mũi bối rối xa xăm không biết mình đang nói hay đang diễn vai gì. Ngự trị không khí trục trặc như có một bức tường di động giữa anh với chúng tôi, ở đó có một ông bụt luôn ẩn nấp để bảo nhỏ rằng, đừng bàn tán làm gì kinh động, chuyện thường tình con người ấy mà!
Dĩ nhiên tay thanh niên tên Liền phải bị thuyên chuyển. Chị phải trong veo để mọi người còn kính trọng như trước, cả anh cũng phải anh hùng với thứ thương tật ghê gớm mà vẫn nguyên vẹn vợ chồng với một người vừa bị một vết mờ. Tình chị em vong niên của chúng tôi đứt gãy, đơn giản vì chị không sang chỗ tôi nữa, chỉ có anh tự đi và tự về, trong đêm. Đôi ba lần chúng tôi nhìn thấy nhau ở những cuộc hội nghị lớn, hoặc toàn Ban liên hoan tổng kết. Tôi ngỡ ngàng sau mỗi lần đứng nhìn xa xa như vậy, chị thu mình chỗ khuất, chỉ bước ra chỗ sáng khi có anh kèm sát một bên, anh muốn chị can đảm như anh giữa mọi người. Dù cố gắng thế nào, anh và chị cũng xuống dốc thê thảm, tóc cùng muối tiêu một cách tức tưởi, hai khuôn miệng không thể tươi cười, họ tối sầm như một bức tranh bị ố, chỉ còn mỗi cái khung viền vàng. Rồi chiến dịch những tháng mùa xuân năm 1975 cuốn tất cả mọi người, chạy và thở chứ không còn đi bằng xuồng như trước nữa.
Mỗi người một góc riêng tư tùy theo thang bậc giá trị mới. Sếp to nhà mặt tiền to, sếp nhỏ nhà tịch biên trong hẻm nhỏ. Chị và anh ở căn nhà hình ống trong khu gia binh của vợ con lính chế độ cũ. Tôi tép riu và độc thân lấy giường xếp và bếp cơ quan làm chỗ tạm. Mỗi khi toàn cơ quan tiệc tùng liên hoan hay các sếp to tiếp khách to, chị là tay hậu cần kiêm đầu bếp thượng thặng. Thi thoảng tôi đến khu gia binh cũ ấy, bước qua khoảnh sân nhỏ nhiều loại hoa ấy và dò xét anh chị trong cuộc sống chung không thể thối thoát như hồi hai người hai tiểu ban trong Cứ. Đến để thấy anh một mực ân cần với vợ mà tóc chị vẫn bạc phừng lên, thống khổ.
Mười năm đầu sau 1975, hai đứa con tuổi ăn học, chị và chúng nó một phòng có những khe thở giáp phòng khách. Anh phòng trong, khe thở thông với mùi lưu cữu của bếp, anh nhường và anh nhịn đây mà. Mười năm kế tiếp con lớn lên, hai đứa con gái cần một phòng độc lập, anh đưa chiếc giường cam phận của mình vô phòng của vợ. Giường của chị giường đôi, một đống gối gòn áo trắng, ấy là những lúc chị gào mà như thách thức tôi "Em nghĩ coi, chị không ôm gối thì ôm cái gì!" Chiếc giường đơn của anh một gối nằm, một cái mền nhỏ, một cây gãi lưng hàng thủ công bằng lõi dừa, mấy quyển sách, long não, dầu gió…Một thập niên nữa, các con đi lấy chồng, ở riêng, phòng cận bếp thành nơi các cháu ngoại của họ tụ tập, lỉnh kỉnh đồ chơi con trẻ. Phòng của anh chị vẫn vậy, giường to đầy gối trắng, giường nhỏ có thêm cái kệ ở đầu giường, trên đó lủ khủ thuốc men giống như bệnh viện.
Tôi rong ruổi, địa chỉ của chị và anh là nơi tôi luôn bứt rứt nhớ và muốn tìm về. Năm mươi năm kể từ khi anh chùi ngửa người vô miệng hầm và chịu đựng mảnh bom ác nghiệt, hoa trong sân nhà anh nhiều lên, cúc kim cúc tứ quý cúc đại đóa, mẫu đơn vàng đỏ trắng, hồng tỉ muội hồng cổ hồng Pháp, phong lan và địa lan… Anh bình thản như một ông từ, duy áo sống thì không nâu sồng chi cả. Tóc chị trắng cước, một cái búi nhỏ làm duyên trên ót, quần áo lụa cũng trắng nốt. Biết tôi quan tâm nhất cái phòng, chị kéo tới bên cửa rồi bật đèn thật sáng. Chiếc giường nhỏ thành kho chứa các thứ gối, giường lớn hai táp-nuy đầy đủ đèn đọc, những chồng sách và mọi thứ. Đập vào mắt tôi hai cái gối nằm và hai chiếc gối ôm theo nết của chị, rất trắng và rất căng. Nhìn qua cũng biết anh nằm phía nào trên chiếc giường chồng vợ đó, bởi táp-nuy phía ấy có những chai, những tuýp, những thứ thuốc chung thân với anh.
Cảm ơn những chiếc gối đã giúp người bạn vong niên của tôi trở thành phi thường. Chị của tôi, chị không tì vết gì cả đừng bận bịu lương tâm, chị như một trái gòn treo mình trong gió rồi rụng xuống, tận hiến cho đời một món quà trắng phau, kỳ diệu.
Thanh Đa, tháng 11/2016.
Dạ Ngân 


Read more…

Contact us