Cựu Tổng Thống Obama sang Đức, được đón tiếp nồng nhiệt


Đám đông ở Berlin đến nghe ông Obama và Merkel nói chuyện (Hình: AP Photo/Gero Breloer)
BERLIN, Đức (AP) – Cựu Tổng Thống Barack Obama hôm Thứ Năm được dân chúng Đức đón tiếp nồng nhiệt như ngôi sao nhạc rock khi ông đến Berlin để xuất hiện trong một buổi nói chuyện cạnh Thủ Tướng Angela Merkel, người ông gọi là một trong những đối tác thân thiết nhất trong thời gian còn là tổng thống.
Các biện pháp an ninh được thi hành chặt chẽ tại khu vực Brandenburg Gate nổi tiếng ở thủ đô Berlin.
Ông Obama và bà Merkel xuất hiện trước đám đông gồm nhiều ngàn người tụ tập để kỷ niệm 500 năm cuộc Cải Cách Tin Lành (còn gọi là Cải Cách Kháng Nghị).
Trực thăng cảnh sát bay quần đảo trên trời và các tay súng bắn tỉa được bố trí trên các nóc cao ốc quan sát kỹ càng nơi đây.
Cựu Tổng Thống Obama sang Đức, được đón tiếp nồng nhiệt
Cựu Tổng Thống Mỹ Barack Obama và Thủ Tướng Đức Angela Merkel tham dự cuộc thảo luận về dân chủ và trách nhiệm toàn cầu ở Berlin hôm 25 Tháng Năm. (Hình: AP Photo/Markus Schreiber)
Cũng trong dịp này, ông Obama bênh vực những gì mà chính phủ ông từng thực hiện cũng như duy trì các giá trị của khuynh hướng dân chủ cấp tiến mà cả ông lẫn bà Merkel đều theo đuổi.
Nêu lên sự trổi dậy của quốc gia chủ nghĩa và tinh thần bài ngoại đang thấy ở nhiều nơi trên thế giới, ông Obama nói với đám đông rằng “chúng ta phải đẩy lui những chiều hướng này vì nó sẽ đưa tới vi phạm nhân quyền đàn áp dân chủ hay giới hạn quyền tự do cá nhân.”
Với phát biểu ám chỉ ông Donald Trump, ông Obama nêu lên nhu cầu phải có của viện trợ phát triển và ngoại giao trong chính sách an ninh quốc gia.
“Chúng ta không thể tự cô lập chính mình. Chúng ta không thể đứng núp sau bức tường,” ông nói trong sự hoan nghênh nồng nhiệt của đám đông.
Bà Merkel sau đó trong ngày Thứ Năm đến Brussels để gặp các nhà lãnh đạo trong tổ chức NATO, kể cả Tổng Thống Donald Trump. (V.Giang)
Read more…

Ðố đảng Cộng Sản dám đối thoại


Ngô Nhân Dụng
Ông Võ Văn Thưởng là trưởng Ban Tuyên Giáo Trung Ương của đảng Cộng Sản. Ông mới dạy dỗ các cán bộ, đảng viên rằng: “Chúng ta không sợ đối thoại, không sợ tranh luận,…”
Ðáng lẽ ông Thưởng phải giảng bài đó trước cho các ông Nguyễn Phú Trọng, Trần Ðại Quang, Nguyễn Xuân Phúc, Tô Lâm, vân vân. Bao nhiêu người muốn đối thoại và tranh luận với đảng Cộng Sản đều bị bịt miệng, bị bắt, bị bỏ tù, hết lớp này đến lớp khác! Lý do? Vì đảng Cộng Sản không dám đối thoại, không dám tranh luận!
Nếu muốn đối thoại và tranh luận, đảng Cộng Sản hãy mời ngay những người như các luật sư Nguyễn Văn Ðài, Lê Công Ðịnh, anh Trần Huỳnh Duy Thức, Tiến Sĩ Nguyễn Quang A tới nói chuyện. Chắc chắn họ sẵn sàng! Ðố mấy lý thuyết gia như Nguyễn Phú Trọng, Võ Văn Thưởng có thể cãi lý với họ!
Nếu muốn đối thoại và tranh luận, đảng Cộng Sản hãy chấm dứt không bắt bớ các blogers và những người đi biểu tình, như các bà Lê Thu Hà, bà Trần Thu Nguyệt, Bùi Thị Minh Hằng, Phạm Thanh Nghiên, anh Vũ Huy Hoàng, vợ chồng nhà thơ Bùi Chát, Tiểu An, và các nhóm đang hoạt động ôn hòa như Hội Anh Em Dân Chủ, Ðường Việt Nam, vân vân. Tại sao không đối thoại với Hòa Thượng Thích Quảng Ðộ? Tại sao không đối thoại với các vị mục sư đang bị cầm tù, hoặc Phật Giáo Hòa Hảo?
Ðảng Cộng Sản ngăn cản, cấm đoán, đàn áp những người trên chỉ vì họ không dám đối thoại và tranh luận với ai cả.
Lý do? Vì đầu óc họ hiện đang rỗng tuếch!
Cứ nghe ông trưởng Ban Tuyên Giáo Trung Ương nói thì chúng ta cũng thấy cái đầu ông trống vắng thế nào.
Ông Võ Văn Thưởng dạy các đàn em lý do tại sao đảng ông khuyến khích tranh luận: “…bởi vì sự phát triển của mỗi lý luận và của học thuyết cách mạng nào rồi cũng phải dựa trên sự cọ xát và tranh luận.”
Nói như vậy mà không cười, ông Thưởng là một nhà hài hước đại tài. Trước hết, bây giờ còn nói đến “học thuyết cách mạng” kia à? Cái học thuyết cách mạng nào vậy? Giờ này ở nước Việt Nam, giữa năm 2017, mà một cán bộ nói đến “học thuyết cách mạng” thì chẳng khác nào các ông Sở Khanh, Mã Giám Sinh giảng về việc bảo vệ trinh tiết của phụ nữ con nhà lành!
Ðảng Cộng Sản hiện là một đảng cực kỳ bảo thủ! Ðó là tổ chức kiên quyết bảo vệ quyền lợi của giai cấp thống trị mạnh nhất thế giới! Ðảng theo đuổi những đường lối chính trị, kinh tế thủ cựu nhất trong lịch sử! Nhân loại đã xóa bỏ lối làm ăn tư bản thời hoang đã từ lâu rồi mà đảng vẫn nuôi nó ở Việt Nam! Loài người đã xóa bỏ bao nhiêu chế độ độc tài chuyên chế như họ đang thi hành ở nước ta, cũng từ lâu lắm rồi! Bây giờ đảng sợ nhất là có ai muốn làm cách mạng!
Một nhân chứng là ông Nguyễn Ðình Cống, 80 tuổi. Năm ngoái ông đã viết thư xin từ bỏ đảng vì “càng ngày tôi càng nhận ra rằng chủ nghĩa Mác Lênin có nhiều độc hại, rằng chủ nghĩa Cộng Sản chỉ là ảo tưởng, rằng thể chế hiện tại của Việt Nam là sự độc tài toàn trị của đảng. Tôi đã viết nhiều bài phân tích sai lầm của Mác, viết nhiều thư gửi tổ chức đảng góp ý kiến về việc từ bỏ chủ nghĩa Mác Lênin và thay đổi thể chế, viết ý kiến đóng góp cho Ðại Hội 12 với hy vọng đại hội sẽ có chuyển biến tốt về phía dân chủ. Thế nhưng Ðại Hội 12 vẫn kiên trì chủ nghĩa Mác Lênin và đường lối chính trị cũ. …Vậy tôi thông báo từ bỏ đảng Cộng Sản Việt Nam!”
Ðảng Cộng Sản không chấp nhận đối thoại, không dám tranh luận với ông Nguyễn Ðình Cống vì họ cần ôm lấy các quyền lợi quá lớn! Ðảng sợ cách mạng lắm! Còn “học thuyết cách mạng” nào đâu mà ông Võ Văn Thưởng vẫn bô bô nói?
Lý do là vì cái đầu của chính ông ta hoàn toàn “trống vắng,” chỉ chất chứa những khẩu hiệu vô vị, tách rời thực tế, lỗi thời, mà loài người đã bỏ vô thùng rác, từ hơn nửa thế kỷ nay, rõ rệt nhất là từ năm 1989!
Cho nên, những lời “tuyên huấn” của ông Võ Văn Thưởng chứa đầy những mâu thuẫn.
Sau khi cổ động cho việc “đối thoại và tranh luận,” mà ông nhấn mạnh “đây là vấn đề rất quan trọng” ông Thưởng lại sợ đám đàn em đang ngồi nghe như vịt nghe sấm khi đứng dậy vội vã chạy ra đường kéo bà con cô bác đòi đối thoại và tranh luận! Ông bèn dặn bảo ngay: “Khoan khoan ngồi đó chớ ra! Chờ chút nữa!” Bởi vì, ông nói, cái “Ban Tuyên Giáo Trung Ương” mà ông nắm đầu nó cũng đang chờ đợi! Tại sao? Chính “Ban Tuyên Giáo Trung Ương” đang chờ Ban Bí Thư “thông qua một văn bản hướng dẫn về việc tổ chức trao đổi và đối thoại với những cá nhân có ý kiến và quan điểm khác với đường lối, chủ trương, quan điểm của đảng và pháp luật của nhà nước.”
Tóm lại, Võ Văn Thưởng kêu gọi đối thoại và tranh luận nhưng chính ông ta cũng chưa biết mình phải đối thoại và tranh luận như thế nào! Theo cách của đảng Cộng Sản thì chính Võ Văn Thưởng cũng không dám “đối thoại và tranh luận” với cái “Ban Bí Thư” ngồi chễm trệ trên đầu mình! Mà cái Ban Bí Thư đó cũng biết có mấy thằng khác nó ngồi trên đầu trên cổ họ nữa! Nhìn lên họ sẽ thấy đó là bọn Nguyễn Phú Trọng, Trần Ðại Quang, Nguyễn Xuân Phúc, Tô Lâm, hay là Tập Cận Bình?
Ông Võ Văn Thưởng giải thích rõ hơn tại sao phải chờ cấp trên “thông qua,” bật đèn xanh và cho chỉ thị chi tiết: “Cần có quy định rõ ràng để từng cấp từng ngành từng cơ sở từng đơn vị xác định rõ trách nhiệm của mình và phương pháp trong trao đổi, đối thoại.”
Nói vậy thì ai cũng hiểu: Ðảng Cộng Sản nói đối thoại và tranh luận tức là “đối thoại và tranh luận dưới sự hướng dẫn!”
Các đảng viên Cộng Sản Việt Nam nghe ông Thưởng nói xong, có thể về nhà ngủ yên. Họ đã quen sinh hoạt trong đảng theo lề thói đó từ lâu: Dân Chủ tức là Dân Chủ Tập Trung, Dân Chủ có hướng dẫn. Không đảng viên nào cần suy nghĩ. Mỗi lần đi họp hãy cất cái đầu ở nhà, mang đi thêm nặng mà còn nguy hiểm! Tất cả những gì đòi hỏi suy nghĩ đã có cấp trên làm giúp rồi! Cứ việc “Noi Gương Bác!” Chính Hồ Chí Minh cũng từng từ chối không suy nghĩ, vì đã có người giúp! Khi một nhà báo hỏi sao không thấy ông ta viết sách, như các lãnh tụ cộng sản khác, Hồ Chí Minh giải thích: Những gì cần viết đã có Bác Mao viết cả rồi! Hồ cũng nói nhiều lần, “Bác cháu cúng ta có thể lầm chứ đồng chí Stalin không thể lầm được!” Cụ Nguyễn Văn Trấn đã nghe và thuật lại câu đó. Chỉ việc nhờ Stalin và Mao suy nghĩ giúp là an toàn nhất!
Một người biết “bán cái” công việc suy nghĩ cho cấp trên làm giúp, đó mới là một đảng viên Cộng Sản gương mẫu, biết “Noi Gương Bác!”
Nhưng dân Việt Nam bây giờ không còn là những con cừu ai bảo sao cũng cúi đầu nghe nữa. Hỏi đồng bào Xã Ðồng Tâm thì biết.
Cho nên, chúng ta cứ thiết lập những diễn đàn công khai, nêu rõ mục đích đối thoại và tranh luận giữa người dân Việt Nam với nhau. Tìm đường cho cả nước trong thế kỷ 21 này. Không cần ai ban chỉ thị hướng dẫn! Không kiêng cữ, không sợ hãi, vấn đề nào cũng có thể đem ra thảo luận.
Một giáo sư Ðại Học Quốc Gia ở Hà Nội, Tiến Sĩ Vũ Minh Giang, chủ Tịch Hội Ðồng Khoa Học Ðào Tạo, đã đề nghị một đề tài: “Việt Nam cần thực hiện một cuộc đổi mới đất nước lần thứ hai.” Nếu không, ông lo nước mình “sẽ tụt hậu so với các nước phát triển trên thế giới.”
Ðề nghị bàn với nhau về “Ðổi Mới Ðợt Hai” tức là nể nang ông Nguyễn Phú Trọng lắm rồi. Nói như thế là vẫn coi như chỉ tiếp tục “con đường đổi mới” của đảng. Nhưng đề nghị này là không tưởng. Vì Nguyễn Phú Trọng không bao giờ dám cho ai bàn về một đề tài mà khi đọc lên ai cũng hiểu “Ðổi Mới Ðợt Hai” tức là “Ðổi Mới Chính Trị!” Ðố đảng Cộng Sản Việt Nam dám để yên cho người dân tự do thảo luận, rồi tranh luận về Ðổi Mới Chính Trị! Cho ăn kẹo cũng không dám!
Nhưng có một đề tài thiết thực hơn và cấp bách không kém, chúng ta cần bàn. Ðó là chuyện “Dân Việt Nam phải làm gì khi chế độ Cộng Sản sụp đổ?” Bàn vấn đề này thì chắc chắn ông Nguyễn Phú Trọng sẽ cho công an tới đối thoại bằng dùi cui! Nhưng đồng bào chúng ta cứ việc đối thoại và tranh luận với nhau! Không nên để nước đến chân mới nhảy!
Read more…

ẢNH NGHỆ THUẬT DƯƠNG QUỐC ĐỊNH

Read more…

Khi nào đức tin biến mất?


Khi Friedrich Nietzsche (nhà triết học người Phổ) tuyên bố rằng: “Thiên Chúa đã chết” ông đã thêm một câu hỏi rằng: “Loại bọt biển nào có thể lau sạch toàn bộ một chân trời?”
Tôi thường thắc mắc câu hỏi đó, bởi vì chỉ tính trong khoảng thời gian sống của tôi, đã có sự suy giảm chưa từng có về con số những người đến nhà thờ cách thường xuyên, và gần đây hơn một sự tăng đột biến số người tuyên bố đã từ bỏ hoàn toàn đức tin và bây giờ ở phần phân loại tôn giáo trên các giấy tờ, người ta ghi là “Không”.
Nhóm sau này (những người khi được hỏi về tôn giáo của họ trên giấy điều tra dân số họ trả lời bằng từ “không”) đã tăng gấp đôi trong 20 năm qua, và ngày nay ở Canada và Mỹ, số đó chiếm hơn 30% dân số. Những con số này cũng tương tự ở Châu Âu và các vùng thế tục hóa khác của thế giới.
Nhưng những cá nhân này có thật sự đã mất đức tin? Khi chúng ta dùng từ “không” để ám chỉ đến tín ngưỡng tôn giáo, người ta thường giải thích với những câu có nội dung thế này: Tôi không tin nữa. Điều đó không có ý nghĩa gì với tôi nữa. Tôi đã mất đức tin vào tôn giáo và nhà thờ. Tôi không thể giả vờ thêm nữa. Tôi đã mất đức tin vào những tín ngưỡng đó. Tôi không chắc liệu có hay không việc tôi tin vào Thiên Chúa.
Điểm chung giữa những cụm từ đó là khái niệm “sự tin tưởng” hay “niềm tin”: “Tôi chỉ không tin vào điều đó nữa”. Nhưng là đang ngừng tin vào một vài điều gì đó tương tự như việc mất đi đức tin của một người. Không cần thiết! Nó có thể là một điều gì đó không còn là tin vào một điều gì, nhưng nó có thể là một vài thứ hoàn toàn khác biệt việc mất đức tin của một người. Để chấm dứt niềm tin vào một tập các lời tuyên bố đức tin, không nhất thiết đồng nghĩa với việc mất đức tin. Thực vậy, việc mất hệ thống tín ngưỡng của một người, thường là điều kiện cho một đức tin được thanh tẩy.
Niềm tin khác với đức tin như thế nào? Bình thường, thuật ngữ để nói rằng chúng tôi tin vào một điều gì đó là đúng, có nghĩa là chúng tôi có thể chắc chắn sự thật đó bằng sự tưởng tượng của chúng tôi, đó là chúng tôi có thể bằng cách nào đó hạn chế nó theo cách tưởng tượng, để nó có ý nghĩa đối với chúng tôi. Ngược lại, nếu chúng ta không thể hình dung điều gì đó có ý nghĩa, thì đó là một bước ngắn để nói rằng điều đó không phải là sự thật. Tín ngưỡng của chúng ta được xác định trên những cái mà chúng ta có thể khẳng định với trí tưởng tượng và suy nghĩ của chúng ta.
Nhưng nhiều đối tượng đức tin của chúng ta, về bản chất và theo định nghĩa, không thể tưởng tượng, không thể miêu tả và vượt xa khái niệm hóa. Vì thế trong lĩnh vực đức tin, để nói tôi không tin điều này hay điều kia, thường là dấu hiệu của sự hạn chế về trí tưởng tượng và sức mạnh lí trí của chúng ta, hơn là sự mất đức tin. Tôi tin rằng chúng ta không tin tưởng về niềm tin của mình, nhiều hơn là chúng ta không tin vào Chúa, điều này thì không phải là mất đức tin.
Đức tin thì sâu hơn niềm tin, và nó thì không luôn luôn là những thứ chúng ta có thể vẽ nên bằng cách tưởng tượng trong tâm trí chúng ta. Cho ví dụ, một vài điều trong Kinh Tin Kính các Tông Đồ: Không thể tưởng tượng chúng như thật, trong việc mô tả chúng như thực tế. Chúng là thật, nhưng hình ảnh của chúng ta về chúng chỉ là những biểu tượng. Nó cũng là thật với những điều trong kinh Tin Kính của các tín hữu và nhiều học thuyết đức tin được viết của chúng ta. Như đã nói, chúng đơn thuần chỉ là những hình ảnh và những từ ngữ chỉ cho chúng ta về một điều gì đó mà chúng ta không thể hình dung được, bởi vì nó vượt xa trí tưởng tượng chúng ta.
Ví dụ: điều đầu tiên, cái cần để nói về Chúa luôn là việc Chúa thì không thể diễn tả hết được, là việc Chúa vượt quá mọi khái niệm hóa, vượt quá mọi trí tưởng tượng, vượt quá việc có thể hình dung, vượt quá sự nắm bắt trong bất kỳ cách thức thích ứng nào bằng ngôn ngữ. Điều này cũng đúng cho sự hiểu biết của chúng ta về Chúa Kitô – Ngôi Hai trong Ba Ngôi Thiên Chúa. Chúa Giêsu là con Thiên Chúa. Nhưng làm thế nào để có thể tưởng tượng hay hình dung điều đó? Đó là điều không thể! Làm thế nào Một Thiên Chúa có thể có Ba Ngôi? Điều này không phải là toán học mà là Mầu nhiệm, là điều gì đó không thể tưởng tượng được. Tuy nhiên, chúng ta tin điều đó, và hàng triệu hàng triệu người trong hai ngàn năm qua đã liều mạng sống và tinh thần của mình cho sự thật không thể tưởng tượng đó. Đức tin là sự hiểu biết về một điều gì đó vì sự to lớn và vô tận của nó, không thể hình dung cách tương ứng bằng cách tưởng tượng lên. Những từ ngữ của chúng ta biểu lộ đức tin của chúng ta, và những từ ngữ đó dẫn đến sự thật, nhưng chúng không phải là sự thật.
Việc bác bỏ một tác phẩm nghệ thuật đặc trưng, không có nghĩa là chúng ta bác bỏ vẻ đẹp. Vì vậy, khi một vài người nói, tôi không thể tin điều này nữa, người đó đang bác bỏ có hiệu lực một tập các lời tuyên bố, một bộ các biểu tượng cụ thể và một học thuyết về nghệ thuật (thần học), thậm chí thực sự bác bỏ niềm tin vào Thiên Chúa, người đó đang từ chối điều đó, bởi vì cách chính xác, người đó không thể tưởng tượng được hình ảnh của những điều mà trên thực tế, điều đó không thể hình dung được.
Người ta nói rằng, người vô thần chỉ là một cái tên khác để nói về những người không thể hiểu được phép ẩn dụ. Có lẽ điều đó quá đơn giản, nhưng nó gợi ý rằng việc bác bỏ tập những lời tuyên bố thần học thì không giống như việc mất đi đức tin của một người.
Mary Nguyễn chuyển ngữ từ ronrolheiser.com
Read more…

Yêu Trời – mến đất

Khi nào đức tin biến mất?

Mùa Phục Sinh là mùa Phụng Vụ quan trọng. Cuối Mùa Phục Sinh có hai sự kiện quan trọng: Chúa Giêsu lên trời (Mc 16:14-20; Lc 24:50-51; Cv 1:1-11) và Chúa Thánh Thần hiện xuống (Ga 14:23-31; Cv 2:1-11). Hai chiều, một LÊN và một XUỐNG, thế nhưng lại không hề trái ngược nhau: Yêu Trời thì cũng phải Mến Đất. Nếu không thì không biết Thiên Chúa (1 Ga 4:8) và chỉ là KẺ NÓI PHÉT (1 Ga 4:20).
Sau khi phục sinh được 40 ngày, Chúa Giêsu cùng 11 Tông Đồ lên Núi Ô-liu, ngoại thành Giêrusalem. Người ta không hiểu rằng sứ vụ thiên sai của Đức Kitô liên quan tâm linh chứ không dính líu chính trị, chính các môn đệ cũng hỏi Chúa Giêsu rằng Ngài sẽ phục hồi vương quốc cho Israel hay không. Họ thất vọng vì bị đè nén bởi đế quốc Rôma và thường mong có ngày lật đổ đế quốc này.
Tuy nhiên, Chúa Giêsu xác định: “Anh em không cần biết thời giờ và kỳ hạn Chúa Cha đã toàn quyền sắp đặt, nhưng anh em sẽ nhận được sức mạnh của Thánh Thần khi Người ngự xuống trên anh em. Bấy giờ anh em sẽ là chứng nhân của Thầy tại Giêrusalem, trong khắp các miền Giuđê, Samari và cho đến tận cùng trái đất” (Cv 1:7-8). Ngay sau đó, Ngài được cất lên cao, một đám mây bao phủ Ngài, và không ai còn thấy Ngài bằng con mắt trần tục nữa…
Chúa Giêsu về trời để chúng ta được lợi ích, Ngài đi nhưng lại có Chúa Thánh Thần đến nâng đỡ và ủi an chúng ta trên suốt cuộc lữ hành trần gian này: “Thầy ra đi thì có lợi cho anh em. Thật vậy, nếu Thầy không ra đi, Đấng Bảo Trợ sẽ không đến với anh em; nhưng nếu Thầy đi, Thầy sẽ sai Đấng ấy đến với anh em”(Ga 16:7). Ngài còn nhiều điều muốn nói với chúng ta, nhưng sức chúng ta không thể chịu nổi, Ngài để cho Chúa Thánh Thần soi sáng và dần dần dẫn chúng ta tới “sự thật toàn vẹn” (Ga 16:12).
Mùa Phục Sinh là Mùa Mừng. Khi cầu nguyện bằng Kinh Mai Côi với Mùa Mừng, chúng ta có ngắm thứ nhì đề cập sự kiện Chúa Giêsu lên trời, và ngắm thứ ba đề cập sự kiện Chúa Thánh Thần hiện xuống.
  1. CHÚA GIÊSU LÊN TRỜI
Chúng ta cầu xin Thiên Chúa thương ban hồng ân biết “ái mộ những sự trên trời”. Chúa Giêsu đã từ trời xuống, trước sau gì Ngài cũng lại về trời ngự bên hữu Chúa Cha. Thánh Luca cho biết: “Sau đó, Người dẫn các ông tới gần Bêtania, rồi giơ tay chúc lành cho các ông. Và đang khi chúc lành thì Người rời khỏi các ông và được đem lên trời. Bấy giờ, các ông bái lạy Người, rồi trở lại Giêrusalem, lòng đầy hoan hỷ, và hằng ở trong Đền Thờ mà chúc tụng Thiên Chúa” (Lc 24:50-53).
Chúng ta không là “người trời” nên không biết những sự trên trời là gì, nhưng chúng ta có thể tìm hiểu và nhận định theo những gì được mặc khải. Đó là những sự gì? Chắc chắn rất nhiều. Nói chung là những điều tốt đẹp, liên quan các nhân đức đối thần và đối nhân, vì Nước Trời là một Vương Quốc hoàn hảo của Thiên Chúa. Chính Chúa Giêsu đã nói với các môn đệ: “Nếu anh em yêu mến Thầy, anh em sẽ giữ các điều răn của Thầy” (Ga 14:15). Ngài nhấn mạnh: “Ai CÓ và GIỮ các điều răn của Thầy, người ấy mới là kẻ yêu mến Thầy. Mà ai yêu mến Thầy, thì sẽ được Cha của Thầy yêu mến. Thầy sẽ yêu mến người ấy, và sẽ tỏ mình ra cho người ấy” (Ga 14:21). Chúa Giêsu cũng đang lặp lại những lời đó đối với mỗi chúng ta. Nếu chúng ta thực sự yêu mến Ngài, chúng ta sẽ được hưởng vinh quang của Ngài. Nếu chúng ta chân thành yêu mến Ngài, chúng ta sẽ được lên trời với Ngài – nghĩa là chúng ta cũng trở nên “người trời” như Ngài, sau khi chúng ta hoàn tất cuộc lữ hành trần gian. Lên trời là cùng đích của cuộc đời mỗi chúng ta.
Chúa Giêsu lên trời, không phải là Ngài bỏ rơi chúng ta, mà Ngài về trước để dọn chỗ cho chúng ta, và chính Ngài sẽ trở lại đón chúng ta đi (Ga 14:2-3). Chúa Giêsu lên trời là vào Vương Quốc vinh quang, những ai trung tín với Ngài cũng sẽ được hưởng hạnh phúc vĩnh hằng nơi Vương Quốc đó. Lời hứa của Ngài luôn chắc chắn, bất di bất dịch, hoàn toàn tuyệt đối. Quả thật, Ngài cũng đã xin Chúa Cha: “Lạy Cha, con muốn rằng con ở đâu thì những người Cha đã ban cho con cũng ở đó với con, để họ chiêm ngưỡng vinh quang của con, vinh quang mà Cha đã ban cho con, vì Cha đã yêu thương con trước khi thế gian được tạo thành” (Ga 17:24). Phúc thay những người tin nhận Đức Giêsu là Con Thiên Chúa và yêu mến Ngài!
Tuy nhiên, ai muốn “ái một những sự trên trời” thì không thể không quý mến những sự dưới đất. Tình trạng “quý mến những sự dưới đất” không có nghĩa là mê say vật chất mà là yêu quý mọi người, kể cả kẻ thù. Có thế thì mới được trở thành “người trời” – tức là nên thánh. Sống giả hình và kèn cựa với tha nhân thì hơi bị “căng” đấy, theo kiểu nói người đời thì đó là “thánh chảnh” – gọi là thánh mà không hề có chút gì là thánh, giống như nói “chúa chổm” – gọi là chúa mà không là chúa!
  1. CHÚA THÁNH THẦN HIỆN XUỐNG
Chúng ta cầu xin Thiên Chúa thương ban hồng ân “được đầy dẫy ơn Chúa Thánh Thần”. Chúng ta quen nói là “bảy ơn Chúa Thánh Thần”, nhưng không phải chỉ bảy ơn mà vô số ơn, và chính Ngài vẫn hằng ngày liên tục hoạt động trong Giáo Hội, tác động từng phút từng giây.
Chúa Thánh Thần là nhân vật vô cùng quan trọng, dạng VIP đặc biệt, bởi vì chính Ngài sẽ “dẫn chúng ta tới sự thật vẹn toàn” (Ga 16:13). Kinh Thánh cho biết: “Khi đến ngày lễ Ngũ Tuần, mọi người đang tề tựu ở một nơi, bỗng từ trời phát ra một tiếng động như tiếng gió mạnh ùa vào đầy cả căn nhà, nơi họ đang tụ họp. Rồi họ thấy xuất hiện những hình lưỡi giống như lưỡi lửa tản ra đậu xuống từng người một. Và ai nấy đều được tràn đầy ơn Thánh Thần, họ bắt đầu nói các thứ tiếng khác, tuỳ theo khả năng Thánh Thần ban cho” (Cv 2:1-4). Đúng như lời Chúa Giêsu đã hứa trước khi Ngài về trời: “Thầy sẽ xin Chúa Cha và Người sẽ ban cho anh em một Đấng Bảo Trợ khác đến ở với anh em luôn mãi. Đó là Thần Khí sự thật” (Ga 14:16-17).
Chúa Thánh Thần đến bằng nhiều cách, rõ ràng nhất là khi chúng ta lãnh nhận Bí tích Thêm Sức. Ngài đến để làm cho chúng ta can đảm làm chứng về Lòng Thương Xót của Thiên Chúa. Ngài đến để đổ đầy tình yêu vào lòng chúng ta, vì Ngài là Ngôi Vị Yêu Thương trong Sự Sống của Thiên Chúa, nhiệm xuất từ Chúa Cha và Chúa Con. Ngài là Thần Khí Thiên Chúa, giống như hơi thở, là nguồn linh hứng yêu thương vô hạn, nhờ đó chúng ta có thể hướng thiện và nỗ lực hoàn thiện để được sự sống dồi dào một cách viên mãn nhất.
Chúa Thánh Thần là tác nhân làm cho Giáo Hội phát triển không ngừng, sinh cây xanh biếc tứ thời bát tiết, kết quả ngọt và trái lành là các trinh nữ, các vị tử đạo, các anh hùng đức tin,… Chúng ta gọi đó là các thánh. Chúa Thánh Thần xuất hiện đa dạng: chim bồ câu, nước, gió, lửa. Thời Cựu Ước, sau Đại Hồng Thủy, bồ câu đã xuất hiện với nhành lá biếc xanh cho biết rằng nước đã rút, đất bắt đầu có sự sống. Bồ câu cũng là biểu tượng của sự hòa bình, và chắc chắn ai cũng khao khát hòa bình.
Nước, gió, lửa là những thứ rất mềm mà lại rất mạnh, thậm chí không gì có thể chống lại. Thiếu nước, chúng ta khát; thiếu gió, chúng ta khó chịu; thiếu lửa, chúng ta không có đồ ăn; thiếu không khí, chúng ta chết. Chúa Thánh Thần rất cần thiết. Vì thế, Giáo Hội luôn cầu nguyện: “Veni Sancte Spiritus – Lạy Chúa Thánh Thần xin ngự đến”.
Lửa rất đặc biệt. Chỉ một đốm lửa nhỏ nhưng có thể thiêu rụi cả cánh rừng rộng lớn. Người ta có thể thổi tắt ngọn lửa nhỏ, nhưng không rất khó dập tắt ngọn lửa lớn. Lửa càng được chia sẻ thì càng thêm nhiều, không hề hao mòn. Thật kỳ diệu!
Lạy Thiên Chúa Ba Ngôi chí thánh, xin khơi lửa mến trong tâm hồn con để con biết yêu trời và mến đất, luôn hướng thượng và nối vòng yêu thương với tha nhân – dù họ là ai. Con cầu xin nhân danh Thánh Tử Giêsu, Đấng cứu độ nhân loại. Amen.
Trầm Thiên Thu
Read more…

Thanh niên gốc Việt biểu tình cùng Ân Xá Quốc Tế trước tòa đại sứ CSVN tại Luân Đôn

             Kết quả hình ảnh cho Biểu tình

Ảnh: Chân Trời Mới Media
Trong Ngày Nhân Quyền Cho Việt Nam tại Vương Quốc Anh 21 tháng 5 năm 2017, tổ chức Ân Xá Quốc Tế đã phối hợp với Phong Trào Con Đường Việt Nam và Đảng Việt Tân, tổ chức một cuộc biểu tình ngay trước tòa đại sứ CSVN tại Luân Đôn.
Cuộc biểu tình nhằm đòi cộng sản Việt Nam chấm dứt vi phạm nhân quyền tại Việt Nam, đòi tự do vô điều kiện cho tất cả tù nhân lương tâm tại Việt Nam, chống tra tấn và đồng thời yêu cầu huỷ bỏ án tử hình công dân Việt Nam.
Một đại diện của Ân Xá Quốc Tế cho biết, nhờ có sự giúp đỡ của Phong Trào Con Đường Việt Nam và chi nhánh Việt Tân Anh quốc, nên số thanh niên và sinh viên Việt Nam tham gia biểu tình lên đến hơn 200 người, đông hơn cả chục lần số hội viên người Anh của Ân Xá Quốc Tế. Người biểu tình cùng nhau hô to các khẩu hiệu bằng tiếng Anh, đòi trả tự do cho tất cả tù nhân lương tâm ở Việt Nam cũng như đòi dân chủ và tự do cho Việt Nam.
Hàng trăm tờ rơi tiếng Anh của Ân Xá Quốc Tế in hình tù nhân lương tâm Trần Huỳnh Duy Thức và lời đòi hỏi trả tự do cho ông đã được trao tận tay người đi bộ ngang qua cuộc biểu tình. Rất nhiều biểu ngữ in chân dung những tù nhân lương tâm tiêu biểu như Trần Huỳnh Duy Thức, luật sư Nguyễn Văn Đài, nhà báo Anh Ba Sàm Nguyễn Hữu Vinh, Hoàng Đức Bình, Bạch Hồng Quyền, Trần Thị Nga, Trần Thị Thuý, Mẹ Nấm, Nguyễn Văn Oai, Nguyễn Văn Hóa, Nguyễn Hoàng Quốc Hùng, v.v. được giương cao trong suốt cuộc biểu tình.
Đại diện của các tổ chức đã lần lượt lên đọc những bài diễn văn kêu gọi dân chủ hóa Việt Nam, thả tù chính trị, chấm dứt sách nhiễu và đàn áp dân oan, nạn nhân Formosa, người bất đồng chính kiến và tháo gỡ nền độc tài độc đảng trị càng sớm càng tốt.
Cuộc biểu tình chấm dứt lúc 1 giờ 30 chiều trong ôn hòa.
HL-0525-024
Huy Lam / SBTN
Read more…

IN TIỀN - 10 lý do nên in tiền

Tôi đây là một người đã mạnh miệng chỉ trích chính sách “nới lỏng định lượng” của ngân hàng nhà nước - Mỹ, Anh, Úc, Nhật và Việt Nam. Nhưng đó chỉ là cái nhìn một chiều. Phải công bằng. Phải nhìn những lợi ích của việc in tiền. Sau đây là 10 lý do vì sao chính phủ Việt Nam nên in tiền.
1. In tiền làm giá nhà tăng. Cái thằng dân đen ở Quận 8 nhà nghèo bà cố. Từ cái ngày chính phủ mạnh tay in tiền thì nó trở thành tỷ phú. Căn nhà cấp 4 của nó giờ muốn mua đâu phải dễ, 2 tỷ là ít.
2. In tiền làm cổ phiếu tăng giá. Nhà đầu tư rất thích. Mua thì cổ phiếu cứ tăng không ngừng. Lợi nhuận tự nhiên.
3. In tiền làm giá bất động sản chung tăng giá. Bạn đầu tư mà lo sợ giá giảm hả? Còn lâu. Chính phủ sẽ in tiền và thế nào nó cũng tăng.
4. In tiền làm cho các ngân hàng có nhiều tiền hơn để cho vay. Càng nhiều tiền cho vay thì càng nhiều hoa hồng.
5. In tiền làm mọi thứ tăng giá. Mấy hộ kinh doanh có dịp để tăng giá bán. Lợi nhuận tự nhiên trên trời rơi xuống.
6. In tiền làm tăng GDP. Năm nay vẫn sản xuất nhiêu đó hàng hóa nhưng vì in tiền nên giá trị của nó tăng. Quá đã.
7. In tiền để giảm gánh nặng cho chính phủ chi trả ngân sách. Thiếu tiền thì in, thu thuế làm gì.
8. In tiền khiến chính phủ khỏi đi vòng vòng thu thuế chi cho nó mệt. Không ai trốn được thuế lạm phát cả.
9. In tiền để người vay nợ giảm bớt nợ cá nhân. Tự nhiên lạm phát xóa bớt một phần nợ thì còn gì sướng bằng.
10. Và cuối cùng, in tiền để mọi người và nhà nhà có cảm giác đang phát triển. Cái gì cũng tăng giá, cái gì cũng lên cao. Các doanh nhân vì tăng giá nên lợi nhuận tăng. Cảm giác thật sướng và vĩ đại.
Đó. Vì những lý do trên thì còn chờ gì nữa? In tiền thôi. In mạnh vào để bất động sản và cổ phiếu lên giá và dân đen làm tỷ phú VND. 1-2-3 dzô, 2-3 dzô, 2-3 zô.
Read more…

Đối thoại..

Lưu Trọng Văn

.
Gã không thể không đồng tình với thái độ mở lòng chân tình của một số trí thức lâu nay vẫn được gọi là" trí thức phái dân chủ" như Nguyễn Quang A, Lê Công Định, Nguyễn Đăng Hưng, Huỳnh Ngọc Chênh... khi lên tiếng hưởng ứng tín hiệu muốn đối thoại với những người bất đồng chính kiến của Trưởng ban Tuyên giáo Võ Văn Thưởng.
Sớm nay cafe với Nguyễn Công Khế tại ngoại ô Sài Gòn, với sự nhậy cảm chốn quan trường của một nhà báo lão luyện, Khế cho rằng tín hiệu này được phát ra không phải từ chủ quan của Thưởng dù Thưởng là người có tâm và chịu nghe. Có nghĩa là theo Khế tín hiệu đối thoại với người bất đồng chính kiến phải được bật công tắc từ giới chóp bu.
Khế phàn nàn, muộn quá.
Khế ca ngợi ông Võ Văn Kiệt là nhà lãnh đạo rất chịu đối thoại với bất cứ ai bất đồng ý kiến với mình. Có lần Khế kể về sự thật tham nhũng của một lãnh đạo cao cấp. Ông Kiệt không tin. Ông tranh luận lại để bảo vệ nhà lãnh đạo vốn là người ông tin cẩn và có quan hệ lâu nay thân thiết với mình.
Mấy ngày sau, ông kêu Khế lên. Ông vỗ đùi Khế rồi nói lớn: mày đúng, tao sai.
Phẩm chất đầu tiên cần có của một nhà lãnh đạo là biết nghe.
Chỉ nhà lãnh đạo nào dám nghe, biết nghe mới biết đối thoại. Nhưng từ biết đối thoại cho đến dám nhận ra mình sai chả đơn giản chút nào. Phải là chính khách vô cùng yêu công lý, lẽ phải luôn đặt lợi ích của dân tộc, quốc gia lên trên hết mới có được phẩm chất vĩ đại là nhận ra kẻ tưởng bấy lâu là đối nghịch với mình nhưng thực sự là bạn của mình và dám nhận ra mình sai.
Cái đích của đối thoại là gì sẽ quyết định thành bại của đối thoại, sẽ vén tấm màn diễn xuất mông má làm dáng hay thực tâm, thực lòng, thực tình.
Gã biết có quá nhiều dấu hỏi sau tín hiệu của Võ Văn Thưởng. Đừng trách kẻ lạc quan. Nhưng cũng đừng cứ đụng tẹo gì là giẫy nẩy nghi ngờ.
Vụ Đồng Tâm minh chứng: Nếu sớm đối thoại để nhận ra sự thật thì không thể có việc hỗn láo và bất chấp luật pháp bắt giam ông Kình để rồi dẫn đến xung đột đến nghẹt thở.
Vụ Formosa minh chứng: Nếu không nghe dân, không dũng cảm đối thoại với đại diện của dân thì tiếp tục sẽ còn bùng nổ những hiểm họa khôn lường.
Gã từng trao đổi với đức cha Nguyễn Thái Hợp, lãnh tụ tinh thần của giáo dân xứ Nghệ và Hà Tĩnh, theo cảm nhận của gã, ông là người rất lịch lãm, cầu thị, khiêm nhường, ứng xử rất văn hóa.
Ông khẳng định: Tôn giáo luôn đồng hành với dân tộc.
Gã cũng được biết những vị lãnh đạo Nghệ An, Hà Tĩnh cũng luôn cho rằng: Cộng sản luôn đồng hành với dân tộc.

Thì với cái chung to lớn như thế tại sao lại không chân tình, thực lòng lắng nghe nhau và đối thoại với nhau tìm ra cách thức tốt nhất lợi cho dân, cho nước, cho cả nhà đầu tư trong vụ Formosa?
Read more…

DAY DỨT

JB Nguyễn Hữu Vinh 

Có một điều chắc em không nhận ra
Ngực áo anh và bông hoa ngày cưới
Có một điều chắc em không đoán nổi
Bữa cưới em về anh qua lối hẹn xưa!
Cô bé ấy ở đâu ? Cô bé ấy bây giờ ?
Mối tình cũ vật vờ ven khóm cỏ
Anh đã tưởng vùi sâu chôn kín nó
Sao còn về... hay chỉ khói phất phơ ?
Em không hay đâu, cô bé vờ ngây thơ
Nép trong ngõ, rụt rè xem lễ cưới
Mắt anh lặng nhưng mà tim bối rối
Đập nghẹn ngào nên để rớt cành hoa.
Có một điều chắc em không nghĩ ra
Cô bé ấy sẽ về nơi hẹn cũ
Váy cô dâu quét nhầu thêm cỏ nhớ
Xin em bước nhẹ nhàng cho hoa ấy trinh nguyên!
Dĩ nhiên là em cũng biết hờn ghen
Và giận dữ như bao người vợ trẻ
Nhưng sao với em tim anh đầy quá thể
Mà cô bé ngày nào chỉ mỗi cánh hoa thôi ?
Đinh Thu Hiền
Read more…

Về vụ "nhọ"

Nguyễn Thông

Về vụ "nhọ", tôi nhắc lại chuyện cũ này: Nguyễn Hữu Chỉnh là người toàn tài, danh tướng thời Lê trung hưng (lâu nay sử quốc doanh quá tôn phò Nguyễn Huệ nên cố tình vùi dập nói xấu cống Chỉnh). Khi Chỉnh kéo quân vào kinh thành Thăng Long phò vua Lê, dẹp loạn Trịnh, có người mách với Chỉnh rằng phải trị viên quan Nguyễn Đình Giản bởi trước kia Giản từng tố cáo, nói theo cách nói bây giờ là bôi nhọ Chỉnh, khi Chỉnh đưa quân Tây Sơn ra Bắc Hà phò Lê diệt Trịnh. Người ấy hỏi Chỉnh có dám dùng Giản không, Chỉnh đáp: Không những tin dùng mà còn trọng nữa là đằng khác. Người kia hỏi vì sao, Chỉnh đáp: Ông ta cương trực, ngay thẳng, tìm ra người như thế là quý lắm. Nếu mình có lỗi thì hắn đã nói đúng, chỉ ra cái sai của mình. Còn như mình không có lỗi như hắn nói, thì cũng không hại gì cho mình. Con người như thế thì không nên giận, càng không nên bỏ. Giận hắn chỉ làm lộ rõ chỗ nông sâu dở yếu của mình thôi.
Làm lãnh đạo phải có cái trí và cái lòng như Chỉnh, chứ hơi một tí lại dọa dẫm bắt bớ trừng trị này nọ thì khác gì mấy kẻ tiểu nhân.
Cái sai của Chỉnh là quá tin anh em nhà Tây Sơn, để rồi Nguyễn Huệ sợ Chỉnh sẽ thoát khỏi vòng cương tỏa của họ, sai Vũ Văn Nhậm ra lừa Chỉnh, bắt mà giết đi.


Read more…

Phải minh bạch thế nào là 'đất quốc phòng'

ĐB Dương Trung Quốc nhấn mạnh qua vụ việc ở Đồng Tâm phải minh bạch khái niệm thế nào là 'đất quốc phòng'.
Phai minh bach the nao la 'dat quoc phong' - Anh 1
ĐB Dương Trung Quốc
Trả lời báo chí bên lề kỳ họp Quốc hội chiều 25.5 liên quan đến vấn đề thu hồi đất đai gây bức xúc dư luận vừa qua, ĐB Dương Trung Quốc cho rằng, mặc dù ở Việt Nam chưa công nhận quyền sở hữu đất đai , nhưng quyền sử dụng có quy định tương đối đầy đủ giá trị với người dân.
Theo ông Quốc, trong đền bù khi thu hồi đất đai, càng ngày Nhà nước càng lấy yếu tố thị trường là yếu tố quan trọng. Điều này nhằm bảo đảm lợi ích của người dân và kể cả lợi ích của doanh nghiệp.
Tuy nhiên, ông Quốc nhìn nhận việc thương lượng với người dân là rất khó.
“Mặc dù Nhà nước đã có các quy định về khung giá, thậm chí đã đã điều chỉnh theo từng thời điểm. Nhưng từ khung giá đó đến sự tự nguyện của dân còn xa, vì người dân bao giờ cũng đặt lợi ích của họ lên cao nhất trong thương lượng. Doanh nghiệp cũng vậy thôi. Chính vì thế các cuộc thương lượng mới kéo dài”, ông Quốc nhận định.
Cũng theo ông Quốc, trong giải quyết vấn đề đất đai đang tồn tại một số giải pháp ngược đời. Khi giải tỏa một mặt bằng nào đó thì những người tuân thủ, gương mẫu vì lợi ích công cộng thường bị thiệt thòi. Trong khi những người không chấp nhận thì về sau có khi lại có lợi.
“Lẽ ra phải khuyến khích những người giao đất sớm, gương mẫu chấp nhận phương án ấy, nhưng cuối cùng ngược lại, người ta tại trở thành thật thà thì thiệt thòi”, ĐB Quốc phân tích.
ĐB Dương Trung Quốc cho rằng, điều này tạo hiệu ứng xã hội là người dân cứ nghe ngóng vì không thấy sự gương mẫu của mình có giá trị gì. Chưa kể đến sự chuyển đổi đất đai diễn ra nhiều khi làm cho người dân cảm thấy mình bị lừa.
“Ngày hôm nay thì bảo rằng làm công trình công cộng, công trình quan trọng của nhà nước, sau đó lại biến thành mặt bằng làm bất động sản tư nhân. Tất cả các yếu tố đó cho thấy vấn đề đất đai sẽ ngày càng phức tạp nếu ta không có một giải pháp căn cơ và tìm được sự đồng thuận của người dân, cũng như của các nhà đầu tư”, ông Quốc nhận định.
Nhắc đến câu chuyện ở Đồng Tâm, ĐB Dương Trung Quốc nhận định có vấn đề liên quan đến đất quốc phòng và đã đến lúc cần phải làm rõ, minh bạch khái niệm “đất quốc phòng”.
Theo ĐB Quốc, trong thời kỳ kháng chiến chống Mỹ, ở miền Bắc, rất nhiều khu đất đắc địa của dân và của Nhà nước, hay của tập thể đã được sử dụng với đúng nghĩa quốc phòng như làm sân bay dã chiến, trận địa pháo, tên lửa…
“Lẽ ra đến lúc kết thúc chiến tranh thì phải trả cho dân, trả cho tập thể những người sử dụng vốn có, nhưng rồi nhiều nơi tự nhiên lại biến thành đất quốc phòng. Sau đó chia chác đất cát với nhau khiến người dân mất lòng tin”, ĐB Quốc nói.
Theo ĐB Quốc, với câu chuyện Đồng Tâm thì khu đất doanh nghiệp vào có phải đất quốc phòng không đã là một câu chuyện. “Nếu là quốc phòng thì xử sự thế nào? Người dân nói rõ ràng họ không bao giờ động chạm vào đất quốc phòng”, ĐB Quốc cho hay.
ĐB Quốc cho biết Đồng Tâm cũng là địa phương đã đóng góp rất nhiều đất đai cho Nhà nước làm sân bay, xây trường bắn. "Kể cả những khu vực theo quan niệm người dân đã giao cho quốc phòng phòng, họ cũng không đụng chạm. Nhưng những khu vực chưa rõ ràng, từng có chuyện quan chức vào đó xà xẻo , dân đấu tranh rồi. Điều quan trọng là người dân muốn rõ ràng, minh bạch”, ông Quốc nhấn mạnh, và cho rằng: “Đã đến lúc phải đặt cách nhìn là có đất quốc phòng, theo nghĩa mảnh đất có giá trị vào sự nghiệp lớn nhất mà mọi người dân đều có trách nhiệm, thì không có lý do gì mà người ta có thể khước từ được. Nhưng đất giao cho Bộ Quốc phòng thì lại khác. Bộ Quốc phòng có rất nhiều nhu cầu, trong đó có làm kinh tế, xây nhà cửa cho cán bộ chiến sĩ… Vì thế, đừng làm lẫn lộn”.
Trường Sơn
Read more…

THỜI SỰ - XÃ HỘI Chính trị Xã hội Giáo dục 10 triệu đồng một lọ thuốc cũng đúng luật mà 40 triệu đồng cũng... không sai

ĐHQH Phạm Khánh Phong Lan. Ảnh Dân Trí.
Quá hoảng hốt! Quá ngỡ ngàng! Quá rối rắm! Thật sự không biết phải mô tả thái độ cảm xúc của mình ra sao nữa sau khi đọc bài trả lời phỏng vấn hành lang Quốc hội xung quanh vấn đề loạn giá thuốc đang khiến dư luận nổi giận.

Để nói trước, ĐHQH Phạm Khánh Phong Lan là một PGS, một TS, một dược sĩ, từng giữ chức vụ PGĐ Sở Y tế TPHCM. Các phóng viên nghị trường đều rất ấn tượng về bà, ở cả kiến thức chuyên môn, ở cả sự thẳng thắn, quyết liệt, không khoan nhượng trước những vấn đề của chính ngành y tế.
Phải nói dài, nói kỹ như vậy, vì những sự thật mà bà Phong Lan vừa nhắc tới nó... đau điếng, nó phũ phàng quá.
Câu chuyện một lọ thuốc đặc trị đấu ở bệnh viện này giá chỉ 10 triệu đồng, song đấu ở bệnh viện khác giá lên tới 40 triệu, theo bà Lan: “Luật Đấu thầu cho phép đấu giá theo cả gói thiết bị, thuốc, nhưng vậy thì phải xem giá của tổng thể gói thầu đó, nếu không vượt giá kế hoạch đưa ra thì xác định là không phạm luật. Nhưng nếu từ đầu, giá kế hoạch đã đưa ra quá cao thì người ta có tha hồ làm cũng không vi phạm... Còn việc tại sao giá chênh lệch đến vậy, tại sao giá trần lại loạn xị như thế thì chính tôi cũng không hiểu”! Vậy Luật Đấu thầu với một khoảng trống mênh mông từ giá sàn tới giá trần đã khiến: Giá thầu một lọ thuốc đặc trị 10 triệu đồng cũng đúng mà 40 triệu đồng cũng không sai.
Quá khủng khiếp với nhân dân. Quá oan ức với những bệnh nhân chắc cũng đã đến hồi khánh kiệt khi mắc những chứng bệnh phải dùng đến thuốc đặc trị giá hàng chục triệu mỗi lọ. Và quá béo bở, quá màu mỡ cho những từ mẫu có thẩm quyền ký, phê duyệt kết quả đấu thầu.
Hôm qua, với một sự cẩn trọng có lẽ là cần thiết, vị nữ ĐBQH TPHCM nói bà hiểu, điều đầu tiên dư luận nghĩ tới là nghi ngờ có tiêu cực trong việc này. Dẫu không ngoại trừ sự bắt tay trong đấu thầu nhưng bà “không suy diễn”, bởi “tiêu cực cũng chỉ là một khả năng”!
Thưa bà Phong Lan, cử tri mong muốn bà, trong cương vị một đại biểu dân cử sẽ trả lời cho người dân chính câu hỏi hôm nay bà đang đặt ra. Mong bà, với kiến thức, uy tín và quyền đại diện, hãy đấu tranh để những người khốn khó khánh kiệt nhất được mua thuốc với đúng giá trị của nó. Một thứ luật 10 triệu cũng đúng mà 40 triệu cũng không sai là một thứ luật hỏng, cần phải được sửa đổi ngay.
Read more…

Contact us