7 cách ứng xử của gái xinh bị vô tình làm rách váy


7 cách ứng xử của gái xinh bị vô tình làm rách váy
Tokyo - Nhật Bản
Tại phi trường Tokyo đông nườm nượp, một anh chàng chẳng may chạm vào làm rách chiếc váy của một cô gái Nhật. Anh ta chưa kịp nói lời xin lỗi thì cô gái đã cúi rạp người nhỏ nhẹ nói:
- Xin lỗi đã làm phiền anh, chỉ vì phẩm chất chiếc váy này tệ quá .

New York - Mỹ
Tại trung tâm Times Square NY, tấp nập người đi lại, 1 anh chàng Mỹ vô tình động vào làm rách chiếc váy của một em tóc vàng. Anh chàng này chưa kịp mở miệng thanh minh thì cô gái đã rút ngay 1 tấm danh thiếp và nói:
- Đây là số phone của luật sư của tôi, ông ta sẽ tìm anh để bàn về việc quấy rối tình dục này, chúng ta sẽ gặp nhau tại toà án...
Nói xong cô gái lấy số phone của anh chàng kia rồi ngẩng cao đầu bước đi.

Paris - Pháp

Dưới chân tháp Eiffel, một chàng lãng tử Pháp không may làm rách chiếc váy của một cô nàng Pháp. Chàng chưa kịp nói gì thì cô nàng đã cười hic hic, sau đó ghé vào tai chàng trai nói:

- Nếu anh không ngại, thì tặng em một bông hồng để xin lỗi đi...

Sau khi mua một bông hồng tặng nàng xong, chàng bèn mời nàng đến 1 khách sạn để cùng tán gẩu về thời trang phụ nữ.

London - Anh quốc

Tại Quảng trường Church bên dòng sông Thames êm đềm, một chàng trai vô tình làm rách chiếc mini skirt của một cô gái Anh. Anh chàng này chưa kịp thanh minh thanh nga thì cô gái đã vội vàng dùng tờ báo đang cầm che đi chỗ rách, lịch sự nói:

- Thưa ông, ông có thể đưa tôi về nhà được không? Nhà tôi ở phía trước, gần thôi...

Anh chàng này bèn lấy áo ấm của mình quấn lại cho cô gái rồi vẫy 1 xe taxi, đưa cô gái về nhà an toàn để thay một chiếc váy mới.

Trùng Khánh - Trung cộng

Trước Tượng đài Giải phóng quân tại Trùng Khánh, một anh Tầu chẳng may làm rách toạc chiếc váy ngắn của một cô gái Trùng Khánh. Anh này chưa kịp mở miệng xin lỗi thì đã nghe tát bốp một cái bên tai. Cô gái tay thì túm chặt lấy cổ anh chàng, mồm thì rít lên:

- Mày to gan nhỉ, dám chọc tới bà mày à? Đi gặp 110 (công an) cùng tao ngay...

Phù Kết - Thái Lan

Trên bãi biển Phù Kết, Thái Lan, 1 anh chàng Thái vô tình làm rách chiếc váy ngắn của một cô gái. Chàng trai chưa kịp nói gì thì cô gái đã cười nói:

- Chưa kịp ngã giá mà đã đòi xem hàng rồi hả anh giai?

Hà Lội - Việt Nam

Tại Chợ Đồng Xuân, chàng thư sinh Nam kỳ chẳng may làm toạc chiếc váy ngắn của một em gái cháu ngoan bác Hồ. Chàng này chưa kịp đưa tay xin lỗi thì nàng đã hét lên:

- Éo Mẹ Tiên Sư Bố cả lò nhà mày, mắt mũi mày để đâu hả thắng nỡm kia? Bà thì tát cho mày một cái, mặt mày lật ra sau lưng, đít gập vào cổ, mặt bổ làm đôi, răng môi lẫn lộn đấy nhé !

Và sau đó áo quần của chàng nầy bị rách tơi tả với cái lỗ mũi ăn trầu cái đầu ăn guốc ...
Read more…

Khi ngã tư là nhà...

Khi ngã tư là nhà
Anh bạn đồng nghiệp với tôi dạy trung học ở Q.8 rất thích bài viết “Dân ngã tư” của nhà văn Lý Lan. Anh mê giọng văn nhẹ nhàng và cách đặt vấn đề của nhà văn kiêm nhà giáo ra trường sau anh một khoá. Dưới ngòi bút của Lý Lan, cuộc sống người dân lao động Sài Gòn Chợ Lớn hiện ra một cách sinh động nhưng rất đỗi bình thường dửng dưng, không ta thán, không trách móc, không bực bội cho số phận từng con người lao động kiếm sống ngoài đường phố. Họ tự vươn lên trong cuộc sống khó khăn, làm lụng mưu sinh, thậm chí còn có nhiều nghĩa cử giúp đỡ lẫn nhau theo kiểu lưu dân “giữa đường thấy chuyện bất bình”.Ngã tư đường phố lúc nào cũng có cảnh sinh hoạt bán buôn, sửa xe tạo nên bộ mặt Sài Gòn thuở trước – Nguồn: Manhhaiflick

Anh kể qua phôn với tôi vài câu chuyện đời sống dân sinh của người Sài Gòn, nhất là những người lao động nghèo buôn thúng bán mẹt ngày trước. Anh bảo: Không cần đi đâu xa, ngay trong xóm hẻm tôi ở có rất nhiều điều để nhớ. Chẳng hạn quán cóc cà phê vợt của ông già cố cựu gần đầu hẻm ngã ba thông ra đường cái gần khu chợ Xóm Củi. Nói là quán cho xôm chứ đó là một chiếc xe chung quanh bọc nhôm sáng bóng có thể đẩy về nhà sau một ngày bán vài chục ly cà phê cho giới lao động quanh chợ. Nhà của ông không xa nhưng chưa bao giờ tôi thấy chiếc xe cà phê rời khỏi vỉa hè mà nó đã từng yên vị ở đó bao nhiêu năm. Từ tờ mờ sáng, nằm trên gác xép tôi đã nghe thấy tiếng sột soạt tháo mở tấm bạt phủ thùng xe, tiếng chẻ củi nhóm lò. Kế đến là mùi cà phê thơm lừng lan tỏa tận đến mùng của tôi. Rồi tiếng vài ba khách hàng xì xào chuyện trò chuyện cá độ nắng mưa ăn tiền trong lúc chờ ông già làm cho mình một ly cà phê.

Một góc ngã tư ở Chợ Lớn ngày xưa tụ tập người bán buôn và dân bán sức- Nguồn: Manhhaiflick

Chợt nghe chuyện cá độ nắng mưa của dân cà phê đường phố ngã tư nhưng tôi không muốn dừng câu chuyện anh bạn đang kể dễ làm mất hứng. Nắng mưa là bệnh của trời, mấy nhà “thiên văn” cà phê vỉa hè, không cần công cụ quan sát chỉ bằng cảm quan mà “bắt mạch” được “bệnh ông trời” thì quả những con người lạ lùng. Họ đoán đúng sai thế nào tôi xin hầu chuyện các bạn vào dịp khác. 

Còn bây giờ câu chuyện anh bạn kể tiếp đang thầm thì bên tai: Ở ngã tư, ngã ba khắp các con phố mặt tiền hay trong hẻm của vùng đất Sài Gòn Chợ Lớn đều có những con người lao động kiếm sống tự do như thế. Họ buôn bán đủ thứ, từ giải khát đến các loại hàng ăn, quà vặt, sửa chữa xe đạp xe gắn máy, hàng tạp hoá lưu động, có khi là một sạp báo ngay góc phố lấn chiếm lề đường mà chẳng có đội quân cảnh sát nào đi dẹp trả lại cho lề đường thông thoáng. Tôi nghĩ những sinh hoạt bán buôn đó chính là một trong những cảnh quan đô thị. Không có những con người lao động mua bán hay đám thanh niên tụm năm tụm ba ngồi quán cà phê vỉa hè bàn chuyện nhân tình thế thái thì chắc Sài Gòn ngày xưa buồn lắm. Sài Gòn thuở nhỏ của tôi lúc ấy còn thưa vắng người. Không như bây giờ cả triệu con người chen lấn trên lòng đường vào lúc tan sở khiến cảnh kiếm sống của dân ngã tư ngã ba hoặc trên các vỉa hè góc phố chìm khuất trong dòng người xuôi ngược thì không còn là một hình ảnh đẹp nữa.

Vâng, có thể là như vậy. Một thành phố quá tải dân cư sẽ trở nên lộn xộn phức tạp và dễ tạo hình ảnh không bình yên như thành phố Sài Gòn ngày xưa lúc còn chưa đông đúc. Tôi xa quê nhiều năm nhưng về Sài Gòn mấy lần nhìn ngổn ngang xe cộ con người, hàng quán buôn bán khắp nơi thấy hoa cả mắt. Tôi nói với anh bạn đồng nghiệp rằng, Sài Gòn Chợ Lớn có bao nhiêu căn nhà mặt tiền là có bấy nhiêu cửa tiệm, quán xá. Người ta nói đùa nhà mặt tiền đều là “tiền mặt”. Không buôn bán thì cho thuê thu tiền hàng tháng, có khi người mướn phải ký hợp đồng đặt cọc cả năm. Có được địa điểm ở những con đường lớn sầm uất, chủ nhà không cần phải đi làm chi cho mệt, thu tiền cho thuê nhà sống khoẻ. Anh bạn nói thêm, đâu chỉ nhà mặt tiền, nhiều năm sau này, quán xá cũng mọc đầy trong hẻm. Sài Gòn có bao nhiêu con hẻm, chẳng thống kê nào cho biết.

Có khi ngã tư cũng là nhà của những người lao động bán buôn, họ nấu nướng tự nhiên trên lề đường – Ảnh: Tom Matthews

Chuyện buôn bán làm ăn nhỏ xíu của dân ngã tư ngã ba anh bạn kể tôi nghe không gì lạ. Ngày tôi còn bé chuyện buôn bán kiếm sống của người lao động trong hẻm đã có tự bao giờ nhưng không phổ biến thành một chuyện đáng bàn. Về sau này hàng quán lớn nhỏ mọc lên như nấm, càng ngày càng nhiều hơn, và xuất hiện thêm nhiều người buôn thúng bán mẹt từ các nơi nhập cư về Sài Gòn kiếm sống, tạo nên bức tranh đô thị tưởng chừng năng động nhưng chẳng có ý nghĩa gì về mặt phát triển kinh tế. Ðiều đó nên vui hay buồn? Nhưng thôi, nhờ có vậy tôi mới thích thú với cuộc sống, sinh hoạt buôn bán của những con người mà nhà văn Lý Lan gọi là “Dân ngã tư” dù là ngoài phố hay trong hẻm.

Hồi trước ở ngã ba đầu xóm tôi cũng có chiếc xe hàng cà phê vợt của ông già Tàu. Hình ảnh đó đến nay với tôi vẫn là một hình ảnh đẹp tuy nó biến mất từ lâu kể từ khi ông già Tàu qua đời. Hàng cà phê của ông là chiếc xe bọc nhôm y như chiếc xe cà phê của ông già cố cựu nơi xóm anh bạn ngụ cư ở khư vực bên chợ Xóm Củi. Ba tấm gỗ bọc nhôm trên mặt, bật lên cài chốt lại thành miếng bàn hẹp dài rất gọn cho khách để ly cà phê. Ông bày bán từ khi lúc hừng đông cho đến khi chiều xuống. Có lần tôi tập làm người lớn, ra quán cà phê của ông, ngồi trên chiếc ghế đẩu gác chân chữ ngũ kêu ly bạc xỉu và cái giò cháo quẩy. Tôi từ từ đổ thứ cà phê thơm lẫn mùi sữa “Ông Già” beo béo ra chiếc dĩa sành nhỏ nhắn, chấm cái cháo quẩy từ tốn thưởng thức và nói chuyện trời trăng mấy nước với ông già Tàu.

Khi ấy tôi không nghĩ ông xem tôi là con nít mà xem tôi như một khách hàng giống bao nhiêu người quen thuộc ghé quán cà phê nhỏ bé của ông. Hay tại quán trưa vắng khách, ông cần có người trò chuyện cho đỡ buồn ngủ. Pha cho tôi ly bạc xỉu xong, ông già quay trở lại thả lưng trên cái ghế bố vải nylon vừa nằm vừa nói chuyện. Tôi nói với ông già “sao không kêu con cái ra trông chừng về nhà ngủ trưa cho đã mắt”. Ông già đáp: “Tụi nó ra riêng phải lo đi làm kiếm tiền, còn ngộ nằm đây. Ở đây cũng là nhà của ngộ”. Thành thử ra khi nhà văn Lý Lan viết rằng: Có lần tôi viết Ngã tư không phải là nhà, thì anh Su cự nự: “Sao hổng phải? Nhà tui là đây”.

Nghe tức cười nhưng không phải là không có lý.

Hẻm cũng là nơi thành quán xá lộ thiên- Nguồn: Manhhaiflick

Ông già Tàu bán cà phê ở ngã ba đầu xóm tôi hay anh Su bán quần áo cũ trên lề đường và trên khắp các con phố Sài Gòn Chợ Lớn còn biết bao dân lao động buôn thúng bán mẹt kiếm sống trên vỉa hè đường phố mặc nhiên xem nơi đây chẳng khác gì là nhà của mình. Họ buôn bán từ sáng đến chiều tối hay tận nửa đêm. Lý Lan nhận xét: “Và như vậy ngày này qua ngày khác, họ quanh quẩn mãi ở ngã tư mà không hề có cảm giác chật chội tù túng. Ngã tư luôn xuôi ngược người thập phương tám hướng… Như con sông, dòng nước cuộn chảy, vẫn có cái gì đó lắng xuống đáy, tích lũy dần, định hình dần những thói quen, tập quán, những quan niệm đạo lý”.

Khi chiều xuống, ông già Tàu dọn dẹp cái quán cà phê, bao bọc mấy tấm bạt nylon che chắn chẳng khác nào cái nhà nhỏ xiêu vẹo nơi ông trú ngụ mà có lần ông mua gạo của má tôi. Ðến nhà ông giao hàng, tôi mới biết thực chất cái nhà của ông đang ở nó già nua tuềnh toàng như thế nào. Ông già Tàu sống thui thủi một mình trong căn nhà chật hẹp, tối tăm. Tôi hỏi ông có thấy bức bối khi ở nhà hay đang ngồi sau chiếc xe cà phê giữa trời mưa gió chờ vài ba người khách thèm ly cà phê? Ông lắc đầu, “quen rồi”. Nhưng dường như trong lời nói của ông có lời trách móc: “lâu rồi, con cái không về nhà nên ngộ chẳng buồn dọn dẹp”.

Nhà văn Lý Lan có định nghĩa kiểu văn chương “Nhà là gì?” trong cuốn Sài Gòn Chợ Lớn rong chơi: “Là một nơi ta quen thuộc, nơi ta là ta, nơi ta chia sẻ với người thân cuộc sống ở cõi đời này”. Nhưng cõi đời của ông già Tàu chẳng thể chia sẻ với ai ngoại trừ bà vợ mỉm cười ngồi ngửi khói hương trên cái bàn thờ đơn sơ. Bà vợ ông mất để lại thằng con trai. Thằng con lớn lên lấy vợ Việt, đi thuê mướn nhà đâu ở vùng Chợ Lớn, hai vợ chồng buôn bán rau cải bên hông chợ Bình Tây, thỉnh thoảng mới dẫn đám con về thăm ông già cô độc.

Mãi đến sau này, có lần tôi đi dạy về, chiếc xe cà tàng của tôi buồn tình không thèm nổ máy. Tôi dẫn chiếc xe đến một chỗ sửa xe quen khuất sau góc ngã tư gần trường. Xe hư nặng, sửa chữa mất vài ba tiếng đồng hồ. Về nhà chẳng được đành nghe lời anh thợ, gặm ổ bánh mì rồi lên nằm trên chiếc võng đong đưa giữa cây cột điện và cây trứng cá tỏa bóng mát. Ðến trưa thấy chị vợ mang cơm ra cùng ăn với anh chồng. Chuyện vãn một hồi, tôi mới biết vợ chồng anh từ quê lên Sài Gòn ở phòng thuê kiếm sống. Chị rửa chén bát tại một quán nhậu. Phòng ốc chật hẹp oi bức nên chị hiếm khi nấu ăn, cứ ra quán ăn bình dân mua cơm hộp. Cơm chiều anh tự lo. Còn chị làm việc đến gần khuya, ăn uống chủ lo miễn phí.

Chiếc võng này anh thợ nằm bao năm tôi chẳng biết. Và cũng chẳng biết cảm giác của anh sống ở ngã tư như thế nào, có thực sự là nhà như ông già Tàu bán cà phê ở xóm tôi ngày xưa hay không. Riêng tôi chắc tại chưa quen nên có cảm giác bực bội khi tự dưng ngã tư biến thành nhà.

Trang Nguyễn
( Báo Trẻ )
Read more…

"Học Thạc sĩ, Tiến sĩ là một hiện tượng kỳ dị"

Trong bài này, GS Sính nói về "thạc sĩ nghề nghiệp" và "thạc sĩ nghiên cứu". Đây là phân loại ở Pháp hiện nay, tức là DESS và DEA. Để tiếp tục nghiên cứu lên cao, làm bằng Tiến sĩ, thì nhất thiết phải theo nhánh DEA (Diplome d'Etudes Approfondies). Tôi đã học DEA và Doctorat ở Pháp. Các bằng ở Pháp được in trên giấy có chữ in chìm như in tiền, soi trên ánh sáng thấy rất rõ. Chữ in chìm thường là Cộng hòa Pháp và Tên trường đại học đào tạo. Dưới đây là nội dung 2 tấm bằng theo cách làm của Pháp:
Bằng DEA (thạc sĩ)
 Bằng Doctorat (tiến sĩ)
Bảo vệ luận án xong, nếu bạn thích thì xin họ cấp bằng, không có nhu cầu thì họ không cấp mà chỉ gửi cho bạn giấy chứng nhận. Mình bảo vệ năm 1998 nhưng mãi năm 2004 nhân trở lại thăm trường mới tới xin cấp bằng.
"Học Thạc sĩ, Tiến sĩ ở Việt Nam là một hiện tượng kỳ dị"
GS.HOÀNG XUÂN SÍNH (GDVN) - Người đi làm thạc sĩ hay tiến sĩ của nước ta hầu như chỉ nhằm tiến thân vào chức vụ này nọ, không hề mong muốn có thêm kiến thức để làm việc tốt hơn.
GS.TSKH Hoàng Xuân Sính chỉ rõ, đào tạo sau Đại học 
ở Việt Nam là một hiện tượng kỳ dị. ảnh: Văn Chung.
LTS: Chia sẻ với độc giả Báo Điện tử Giáo dục Việt Nam, GS.TSKH Hoàng Xuân Sính (nữ Tiến sĩ Toán học đầu tiên của Việt Nam) nói rằng, đào tạo sau đại học ở Việt Nam là một hiện tượng kỳ dị, vì nhiều người đi học lấy bằng không phải vì mong muốn làm việc tốt hơn mà là để thăng tiến chức vụ.


Lâu năm trong giáo dục, chúng tôi đã thấy ở nước ta có 3 vấn đề rất đáng chú ý: Đối với bậc phổ thông các trường phấn đấu để học sinh đỗ vào đại học; Đối với bậc đại học các trường phấn đấu để sinh viên tốt nghiệp có việc làm; Đối với bậc sau đại học thì ta có một hiện tượng kỳ dị, đó là không phải phấn đấu gì hết.

Chúng tôi xin nói rõ hiện trạng của bậc sau đại học: Trước hết Bộ Giáo dục chưa phân loại "thạc sĩ nghề nghiệp" và "thạc sĩ nghiên cứu". Thạc sĩ nghề nghiệp th́ì có thể vừa học vừa làm, chỉ đến trường nghe giảng vào hai ngày thứ bảy và chủ nhất mỗi tuần; nhưng thạc sĩ nghiên cứu thì phải dành toàn bộ thời gian để học và học rất căng.

Thạc sĩ nghề nghiệp nhằm giúp người đi làm có thêm kiến thức cho công việc được tốt hơn. Còn thạc sĩ nghiên cứu là để dành cho ai có mong muốn dấn thân vào nghiên cứu.

Cho tới nay tôi chưa thấy có quy chế về thạc sĩ nghiên cứu ở nước ta, và tôi đã đọc một văn bản của Bộ Giáo dục đề cập tới thạc sĩ nghiên cứu trong tương lai sắp tới, tôi xin hoan nghênh.

Cho nên khi làm tiến sĩ, các thày hướng dẫn phải chấp nhận nghiên cứu sinh chỉ có thạc sĩ nghề nghiệp, và đành phải làm hộ hoặc cho ra lò những luận án tồi. Vả lại người đi làm thạc sĩ hay tiến sĩ của nước ta hầu như chỉ nhằm tiến thân vào chức vụ này nọ, không hề mong muốn có thêm kiến thức để làm việc tốt hơn.

Hiện nay người ta đi làm thạc sĩ, tiến sĩ thường là với mấy mục đích sau đây: Thứ nhất, mong tiến thân cho những chức vụ có bổng lộc. Thứ hai, xóa đi dĩ vãng học đại học không mấy hay ho như học tại chức, học liên thông, học dân lập bằng cách học thạc sĩ ở những trường đại học lớn - các trường đại học lớn của ta rất khắt khe trong việc tuyển sinh đại học nhưng lại rất nhẹ tay khi tuyển sinh cho bậc sau đại học, khó nghe thấy ai trượt tuyển sinh sau đại học.

Chúng tôi cũng xin nói về học phí học thạc sĩ trong nước. Học phí chính thức không đắt, các trường lấy hầu như bằng nhau, nhưng theo dư luận thì có khoản có biên lai (nghĩa có biên lai cho học phí chính thức), có khoản không có biên lai và khoản này thì tùy từng trường.

Các bạn đồng nghiệp nói với tôi rằng đào tạo thạc sĩ có lời vì nhà trường không phải phấn đấu đào tạo gì cả do người học đã có công ăn việc làm không như với sinh viên ở bậc đại học, và do học phí đã được xác định giữa học viên và nhà trường với những khoản không có biên lai.

Chúng tôi là trường tư, không dám có những khoản không biên lai, cho nên với học phí chính thức thì chỉ đủ chi trả lương thày, mọi khoản khác không tính đến.

Nhiều lần họp Hội đồng quản trị, tôi không trả lời được câu hỏi của một số thành viên: Tại sao người ta lời nhiều với đào tạo thạc sĩ mà trường này lại kêu lỗ? Tôi chẳng biết trả lời ra sao.

Quan hệ người học với thày giáo và lãnh đạo một trường tư có khác: Cứ có chút chút điều gì không vừa lòng thì người học đòi hỏi phải có văn bản để đưa ra chính quyền. Tất nhiên chúng tôi chấp nhận điều đó và coi đó là quyền lợi của người học.

Chúng tôi bắt buộc phải có đào tạo sau đại học, nếu muốn làm công tác nghiên cứu, và cũng là để nâng cao trình độ giáo viên. Nhưng thế giới đều biết là đào tạo sau đại học rất tốn tiền, vì thế ta thấy ở những nước theo giáo dục Anh Mỹ tiền học phí rất cao, trừ các nước chủ trương đại học công là chính như Pháp, Đức thì học phí mới thấp.

Thầy Việt Nam cho điểm gì mà cao thế?

Bộ Giáo dục của ta rất khuyến khích các trường trong nước liên kết với đại học nước ngoài để đào tạo thạc sĩ, điều này cũng dễ hiểu vì chương trình của họ tốt, giáo viên có trình độ khoa học vững vàng và cập nhật; việc liên kết được Bộ khuyến khích bằng cách cho điểm trong xếp hạng phân tầng các trường đại học.

Sau một số năm làm liên kết, chúng tôi nhận thấy rằng áp lực của đối tác liên kết và của người học quá lớn: đối tác luôn đòi tăng phí đào tạo, người học thì không chịu học phí cao, cuối cùng chúng tôi phải chấp nhận bù lỗ. Chúng tôi cho đối tác biết áp lực phải chịu, họ trả lời chúng tôi muốn mua danh tiếng thì phải chịu.

Tôi không biết các bạn đồng nghiệp trong nước thấy thế nào về việc này, đối với chúng tôi, không thấy có danh tiếng gì thêm cho trường khi liên kết với đại học nước ngoài.

Người học đến chỗ chúng tôi học, chỉ chăm chăm có cái bằng nước ngoài mà xã hội coi trọng, không bao giờ kể đến cái trường nơi họ đến học, nó tiếp sinh viên thế nào, nó có đủ phương tiện đáp ứng việc học thế nào?

Hoàn toàn không, chúng tôi chẳng có danh tiếng gì với người học cũng như với xã hội. Nếu có danh tiếng thì là danh tiếng với nước ngoài như sau: họ nói với chúng tôi rằng tại sao mỗi lần thi lại quay cóp nhiều như vậy khiến họ bắt phải thi lại nhiều lần?

(GDVN) - Nữ giáo sư, Tiến sĩ Toán học đầu tiên của Việt Nam, nay đã 83 tuổi nói chuyện về làm giáo dục ngày nay. Hóa ra, câu chuyện đâu phải chỉ có tiền nhiều hay ít?

Thày Việt Nam cho điểm gì mà cao thế (phía chúng tôi phụ trách dạy 1/3 chương trình để học phí hạ xuống) để tổng điểm tốt nghiệp bao giờ cũng cao nhất trong 3 nơi thi là Mỹ, Pháp, Việt Nam trong khi điểm đầu vào lại thấp nhất? Danh tiếng của chúng tôi chỉ có vậy.

Trước tình hình liên kết như vậy, cho nên trong giai đoạn hiện nay chúng tôi thấy không nên mở rộng liên kết với đại học nước ngoài mà phải tập trung vào nâng cao đào tạo sau đại học trong nước.

Chúng tôi đã có chủ trương mời thày nước ngoài dạy cho những môn mà chúng tôi thấy cần thiết cho việc hội nhập khi nước mình đã ký một loạt hiệp định thương mại với quốc tế. Vấn đề khó khăn ở đây là học viên không nghe giảng được bằng tiếng Anh.

Vì vậy, chúng tôi đã tung giảng viên của mình dịch bài giảng bằng tiếng Anh sang tiếng Việt, phát bài giảng bằng cả hai thứ tiếng cho học viên trước khi lên lớp, và cuối cùng lúc giảng viên nước ngoài dạy thì giảng viên của chúng tôi ở bên cạnh để dịch và cũng để giải thích khi có thắc mắc.

Một lớp dạy như vậy rất tốn tiền, nhưng chúng tôi chấp nhận, vì:

Thứ nhất giảng viên trẻ của chúng tôi được nâng cao trình độ và có nhiều cơ hội tiếp xúc với đại học nước ngoài.

Thứ hai, việc phát bài giảng cho học viên bằng hai thứ tiếng giúp học viên trong công việc họ đang làm khi họ gặp tình huống phải sử dụng tiếng Anh.

Thứ ba, học viên thấy rõ là chúng tôi tổ chức lớp học như vậy là vì người học.

Qua chuyện trên, là nhà quản lý, chúng tôi hiểu rằng để phản ứng tích cực, nhanh nhạy với tình hình thì phải được chủ động trong tài chính, trong học thuật và trong nhân sự. Tất nhiên là trường tư dễ dàng xử lý hơn trường công vì nhân sự lãnh đạo không nhiều và vì chúng tôi không nhận tài trợ của nhà nước.

Chúng tôi có thể tóm tắt sau các trình bày ở trên : chúng tôi được tự chủ với ít ràng buộc trong chi tiêu và tổ chức - nhân sự. Về học thuật thì chỉ được phần nào như việc tổ chức dạy cao học trong nước như kể trên; còn ngành nghề và khung chương trình thì hoàn toàn là nằm trong khung đã định sẵn.

Và còn việc xin phép liên kết với một đại học nước ngoài thì quả là khó khăn, nó có những quy định mà chúng tôi mong rằng trong tương lai sẽ bớt đi. Mọi người trong chúng ta đều hiểu rằng tự chủ trong học thuật làm trường nổi tiếng.

GS.Hoàng Xuân Sính
http://giaoduc.net.vn/gdvn-post172393.gd
Read more…

Hoan hô Đại biểu Quốc hội Lê Thanh Vân


Đại biểu Quốc hội vỡ oà sau cuộc đối thoại với dân Đồng Tâm
Đại biểu Quốc hội Lê Thanh Vân: Tôi cho rằng có hai vấn đề cần đặt ra. Thứ nhất, phải phân loại các loại đất, đất an ninh quốc phòng, công trình công cộng phải công bố rộng rãi cho toàn dân biết. Thứ hai là, đất phục vụ mục đích kinh tế có lợi nhuận thì phải sòng phẳng lợi ích với nhân dân, không thể giao đất cho các doanh nghiệp mà không có sự thỏa thuận với nhân dân theo giá thị trường. Thế nên phải khẩn trương xây dựng cơ sở pháp lý tạo dựng thị trường quyền sử dụng đất. Giải quyết việc ấy thì xung đột mâu thuẫn về đất đai hạn chế rất nhiều và tiến tới chấm dứt.
Ông Lê Thanh Vân viết tặng ông Phạm Xuân Triển - 
nguyên Bí thư Thị ủy Hải Dương 4 chữ "Công bộc vĩnh xương".
Dân trí

 Đại biểu Quốc hội Lê Thanh Vân - Uỷ viên Thường trực Uỷ ban Tài chính Ngân sách của Quốc hội, nói rằng niềm vui trong ông vỡ oà trước kết quả buổi đối thoại giữa Chủ tịch Hà Nội Nguyễn Đức Chung với bà con nhân dân Đồng Tâm và khẳng định sẽ tiếp tục theo dõi, giám sát quá trình giải quyết sự việc này. Thôn Hoành bình yên trở lại sau gần 10 ngày “dậy sóng” / Nhân dân Đồng Tâm phấn khởi sau tuyên bố của Chủ tịch TP Nguyễn Đức Chung
- Là đại biểu Quốc hội đầu tiên lên tiếng, cho rằng Chủ tịch UBND TP Hà Nội cần phải sớm đối thoại với người dân xã Đồng Tâm (huyện Mỹ Đức), ông đón nhận kết quả buổi đối thoại ngày 22/4 với tâm trạng như thế nào?
Tôi đã theo dõi sự kiện xảy ra ở Đồng Tâm ngay từ đầu và luôn theo dõi, bám sát diễn biến, tìm hiểu kỹ lưỡng thông tin. Sau khi chia sẻ của tôi được đưa lên trang Facebook cá nhân, nhiều báo viết bài phản ánh, tôi đã nhận được rất nhiều cuộc điện thoại, nhắn tin của người dân trên cả nước, trong đó có không ít người ở Đồng Tâm.
Chính vì thế kết quả cuộc đối thoại của Chủ tịch UBND TP Hà Nội Nguyễn Đức Chung với người dân Đồng Tâm ngày 22/4, khiến niềm vui trong tôi vỡ oà. Tôi đánh giá cao tập thể Thành ủy - UBND TP Hà Nội mà đại diện là ông Nguyễn Đức Chung với tinh thần cầu thị, dám đối mặt với sự thật, tuy hơi chậm nhưng có kết quả tốt đẹp.
Tôi mong rằng ở những “điểm nóng” khác trên cả nước những người lãnh đạo cấp uỷ, chính quyền địa phương cũng có cách xử lý thế. Nước là Dân, Dân cũng là Nước, Dân thắng là Nước thắng thì sẽ không còn tình trạng gây căng thẳng giữa chính quyền với nhân dân nữa.
Qua việc này, tôi cũng muốn ở cấp chính quyền địa phương phải tăng cường đối thoại với nhân dân thường xuyên hơn. Nghị quyết của Đảng đã có rồi, cấp ủy chính quyền phải thường xuyên nắm bắt tâm tư, sửa đổi lề lối để gần dân hơn nữa thì mối quan hệ giữa nhà nước với nhân dân sẽ gắn chặt hơn.
Nắm bắt mọi vấn đề phản ánh, tâm tư nguyện vọng của nhân dân hơn thì đấy mới là nhà nước của dân, do dân, vì dân. Đấy là điều tôi mong muốn nhất.
Có điều chắc chắn rằng tôi và dư luận vẫn sẽ theo dõi những diễn biến tiếp theo về chuyện ở Đồng Tâm.
- Ông quan tâm, theo dõi những vấn đề nào trong quá trình giải quyết sự việc này?
Hà Nội đã quyết định thanh tra quá trình quản lý, sử dụng đất trong vòng 45 ngày. Theo quy định về trình tự giải quyết khiếu nại, tố cáo thì hiện nay đang trong tay của chính quyền Hà Nội. Nhưng tôi cho rằng nếu để giải quyết rốt ráo cần sự vào cuộc của những cơ quan hữu quan ở Trung ương như Bộ Quốc phòng, Thanh tra Chính phủ, Bộ Tài nguyên và Môi trường, Ban Dân nguyện của Uỷ ban Thường vụ Quốc hội. Để có thể thanh tra toàn diện như chủ trương Hà Nội nêu, đảm bảo tính khách quan, minh bạch, rõ ràng với người dân và dư luận cả nước.
Tại sao đất đấy giao từ năm 1980, đã qua chuyển đổi nhiều lần sử dụng không rõ mục đích?. Nếu đúng như báo chí phản ánh thì mấy chục năm qua chỉ có chuyện chuyển đi chuyển lại, đất không dùng vào mục đích nào. Câu hỏi đặt ra là công tác quy hoạch không có hiệu quả là quy hoạch treo, gây thiệt hại là đất không được sử dụng - lẽ ra chí ít cũng phải được sử dụng vào mục đích nông nghiệp cho nông dân cấy cày - thì ai chịu trách nhiệm.?
Vấn đề thứ hai, ranh giới khu đất tới đâu, mấy chục năm qua thay đổi tới đâu khiến cho nhập nhèm giữa đất quốc phòng với đất nông nghiệp, để cho một số kẻ cầm quyền lợi dụng trục lợi mà TP Hà Nội đã đưa ra truy tố xét xử? Chính ranh giới mập mờ như vậy, nên một số kẻ tham lam "đục nước béo cò", khiến dư luận nhân dân Đồng Tâm bức xúc, tạo thành tâm lý căng thẳng.
Vấn đề thứ ba là thủ tục trình tự, cơ sở pháp lý bắt người dân ở cánh đồng đã được giao cho cơ quan có thẩm quyền làm rõ, nhưng tôi cho rằng phải kiểm điểm thật nghiêm, xử lý nghiêm minh những kẻ đã lạm dụng pháp luật. Về mặt Nhà nước thì những kẻ nào lạm dụng quyền hành để bắt người không đúng thủ tục, thiếu cơ sở pháp lý thì phải trừng trị nghiêm minh hơn người dân. Pháp luật quy định đấy là những chủ thể có tình tiết tăng nặng vì nắm bắt pháp luật, hiểu biết pháp luật nhưng cố tình vi phạm thì phải xử lý nghiêm minh để ngăn chặn tình trạng lạm dụng công quyền gây ra bức xúc cho nhân dân.
Chủ tịch UBND TP Hà Nội Nguyễn Đức Chung vui vẻ bắt tay đại diện lãnh đạo, nhân dân xã Đồng Tâm sau buổi đối thoại (Ảnh: Quang Phong)
Chủ tịch UBND TP Hà Nội Nguyễn Đức Chung vui vẻ bắt tay đại diện lãnh đạo, nhân dân xã Đồng Tâm sau buổi đối thoại (Ảnh: Quang Phong)
-Theo ông, câu chuyện xảy ra ở Đồng Tâm đặt ra những vấn đề nào cần giải quyết trong thời gian sắp tới?
Từ chuyện ở xã Đồng Tâm, tôi cho rằng tranh chấp, mâu thuẫn giữa người dân với chính quyền về đất đai phải được giải quyết căn bản bằng cách sửa đổi lại chính sách đất đai hiện nay.
Nếu tiếp tục duy trì quyền sở hữu toàn dân về đất đai thì khó giải quyết tranh chấp ấy, bởi vì sở hữu toàn dân thì giải quyết về mặt chính trị rất tốt, nhưng thể chế hóa bằng pháp luật lại là do nhà nước làm đại diện. Nhà nước cũng là một tập thể, chủ thể không xác định được con người cụ thể nên đã trao cho quyền cá nhân không chỉ là những người có thẩm quyền ký các quyết định đất đai mà cả bộ máy tham mưu nữa. Tập hợp những cá nhân đấy nếu cái tâm không sáng, không vì nước vì dân thì tài sản công sẽ dễ bị biến thành tài sản tư.
Chính vì thế, tôi cho rằng có hai vấn đề cần đặt ra. Thứ nhất, phải phân loại các loại đất, đất an ninh quốc phòng, công trình công cộng phải công bố rộng rãi cho toàn dân biết, tôi tin dân chúng sẽ ủng hộ.
Thứ hai là, đất phục vụ mục đích kinh tế có lợi nhuận thì phải sòng phẳng lợi ích với nhân dân, không thể giao đất cho các doanh nghiệp mà không có sự thỏa thuận với nhân dân theo giá thị trường.
Thế nên phải khẩn trương xây dựng cơ sở pháp lý tạo dựng thị trường quyền sử dụng đất. Có như vậy mới coi quyền sử dụng đất như một thứ hàng hóa và trao đổi bình đẳng theo cơ chế thị trường. Giải quyết việc ấy thì xung đột mâu thuẫn về đất đai hạn chế rất nhiều và tiến tới chấm dứt.
- Chuyện ở Đồng Tâm một lần nữa cho thấy vai trò, trách nhiệm của người đứng đầu các cấp ở địa phương. Theo ông cần phải quy trách nhiệm đối với những người đứng đầu lười tiếp dân, thiếu trách nhiệm trong giải quyết khiếu nại tố cáo, đối thoại với người dân, để xảy ra “điểm nóng”?
Đúng như vậy. Tôi nhắc lại, mối quan hệ giữa nhân dân với chính quyền là quan hệ cá - nước, cá không có nước không sống được, nước không có cá thì nước không có tác dụng. Quan hệ đó phải thường xuyên gắn bó qua đối thoại, khi có dấu hiệu điểm nóng thì người đứng đầu chính quyền phải xuống đối thoại để trực tiếp xử lý vấn đề xảy ra theo thẩm quyền của mình ngay tại chỗ, gỡ được nút thắt giải quyết được khiếu kiện kéo dài, tránh việc đùn đẩy giải quyết lên trung ương như hiện nay.
Trong đó cần phải đề cao trách nhiệm của người đứng đầu các cấp. Chúng ta đã trao cho họ thẩm quyền thì phải gắn với trách nhiệm. Ở đâu có khiếu kiện, tố cáo kéo dài, mâu thuẫn, bất ổn thì người đứng đầu cấp ủy chính quyền ở đấy trước hết phải chịu trách nhiệm. Có như vậy người ta mới xả thân gắn bó, dám nghĩ dám làm vì dân.
Muốn được thế thì phải thay đổi công tác cán bộ, chọn được người có năng lực, thực tâm, thực tại. Thực tâm là biết lắng nghe nhân dân, biết thương xót nỗi đau nhân dân. Thực tại là nắm chắc pháp luật, nắm chắc chủ trương, hiểu biết để khi có vấn đề đặt ra trực tiếp giải quyết, kịp thời phúc đáp nhân dân ngay lập tức.
Thẩm quyền của người đứng đầu là Chủ tịch UBND phải nắm chắc pháp luật để có thể giải quyết ngay lập tức theo thẩm quyền, luật pháp quy định rồi nhưng năng lực của cán bộ không làm được việc đó, đùn đẩy cho bộ máy tham mưu hết cấp này cấp khác, nên không giải quyết dứt điểm được. Chính vì thế mà phẩm hạnh năng lực cán bộ quan trọng lắm.
Xin cảm ơn ông!
Đại biểu Quốc hội phải chủ động lên tiếng
Theo ông Lê Thanh Vân, hoạt động giám sát của Quốc hội, phải căn cứ vào quy định Luật hoạt động giám sát của Quốc hội. Chính vì thế, Quốc hội giám sát theo tầng lớp, thẩm quyền. Đối với những sự việc diễn ra ở địa phương thì trước hết, Hội đồng nhân dân các cấp theo thẩm quyền của mình phải thực hiện giám sát trước tiên; đến khi Quốc hội giám sát phải tuân theo trình tự quy trình, phân cấp phân quyền rõ ràng.
“Với đại biểu biểu Quốc hội, tôi cho rằng không chỉ đại diện cho đơn vị bầu cử, mà phải căn cứ theo Hiến pháp, pháp luật: Dù bầu ở đâu thì liên quan tới quốc kế dân sinh, đại biểu Quốc hội phải chủ động lên tiếng"- ông Vân nói.
Thế Kha (thực hiện)
http://dantri.com.vn/xa-hoi/dai-bieu-quoc-hoi-vo-oa-sau-cuoc-doi-thoai-voi-dan-dong-tam-20170423085953095.htm
Read more…

Đồng loạt tăng viện phí: Chế độ bóp chết người nghèo!

Minh Quân

 Cái chết của người nghèo chưa bao giờ bị chế độ mặc định chắc chắn như giờ đây!


Một quan chức ngành y tế than thở “Vẫn còn  đến 27 tỉnh, thành chưa hoàn thành việc tăng giá dịch vụ y tế theo lộ trình”, và nêu quyết tâm “sắp tới sẽ phải hoàn thành kế hoạch tăng giá dịch vụ y tế”.

Theo một “nghị quyết” của Bộ Y tế vào năm 2015, từ quý I/2017, viện phí sẽ tính thêm tiền lương nhân viên y tế và áp dụng với 27 địa phương còn lại trên cả nước. Với việc đưa lương vào viện phí, hàng ngàn dịch vụ kỹ thuật sẽ tăng giá khoảng 30%-50%.

Dân nghèo cũng bởi thế đang chết đuối dưới cơn sóng lừng ập lên đầu họ.

Đừng nhìn vào bản báo cáo của Bộ Y Tế – địa chỉ của một nữ bộ trưởng quá tai tiếng bởi chân dung cá nhân gắn liền với hình ảnh phong bì cùng biệt danh “Tiến kim tiêm”, nhưng vẫn “kiên định xã hội chủ nghĩa” bám chặt ghế – mà hãy nghe lời tách bạch của những chuyên gia phản biện: hoàn toàn chẳng khó để nhận ra nếu chuyển viện phí sang tính theo cơ chế thị trường, chi phí khám, chữa bệnh có thể tăng từ hai đến năm lần. Chẳng hạn chi phí chạy thận nhân tạo sẽ tăng từ 460.000 đồng một lần hiện nay lên ít nhất 0,9 – 1 triệu đồng một lần. Còn giá khám bệnh sẽ tăng gấp 5 lần, từ 20.000 đồng lên đến 100.000 đồng. Giá chụp CT có thể cũng sẽ tăng từ 500.000 đồng lên 1 triệu đồng…

Nhưng thực ra, tất cả những việc tăng giá y tế như tên chỉ là việc hợp thức hóa cho chuyện đã rồi. Đã từ nhiều năm qua, nhiều cơ sở y tế và bệnh viện đã tăng giá vô tội vạ, còn các đoàn thanh kiểm tra của sở ngành y tế chỉ như cưỡi ngựa xem hoa và bị đồn đoán không thiếu gì chuyện quà cáp, phong bao.

Cái chết hữu thể của những bệnh nhân không tiền, cùng cảnh thất học của những sinh viên bị móc túi, đang biến dư luận xã hội và nỗi phẫn uất dân chúng thành nơi chôn cất cuối cùng cho một chính thể “ăn của dân không chừa thứ gì.”

Không thiếu gì cái chết của bệnh nhân bị đẩy ra nằm ở hành lang khu cấp cứu quá lâu, khi người nhà không đủ tiền để “tạm ứng” cho bệnh viện. Ngày càng hiện ra nhiều hơn những mạng người ra đi để càng tô thắm cho một chế độ “của dân, do dân và vì dân.”

Giá cả chữa bệnh lại đạp lên đầu lương tâm để vượt dốc. Những năm qua, chiến dịch tăng giá phi mã viện phí đã thường nâng mặt bằng giá dịch vụ y tế bình quân lên gấp rưỡi đến hai lần qua mỗi năm, quá đủ để làm bệnh nhân khốn đốn và thỉnh thoảng lại có người lao mình từ tầng mười bệnh viện xuống đất. 

Phải chăng đó là là “tăng giá dịch vụ y tế để tạo sự bình đẳng” như giới quan chức y tế và chính phủ Việt Nam vẫn huấn thị?

“Bình đẳng xã hội chủ nghĩa” là như vậy.

Khó có thể nói khác hơn, giới quản lý và thực thi chính sách xã hội đã biến chủ trương “xã hội hóa” từ vài chục năm qua thành phản cảm, và hơn nữa là đang tâm phản động.

Những kẻ đang tâm tăng viện phí và hợp thức hóa cho chiến dịch này lại rất đồng lòng, đồng cảm và đồng túi với những kẻ đang dốc sức bù lỗ lên đầu dân nghèo bằng các chiến dịch tăng giá điện và xăng dầu.

Năm nay, 2017, kinh tế đình đốn và một chân đã sa vào khủng hoảng, ngân sách không còn biết tìm ra nguồn thu nào khác ngoài việc bổ thuế lên đầu dân, bất chấp bao nhiêu cảnh nạn môi trường, đất đai, chợ búa, mất mùa, bị ép giá chưa bao giờ dồn lên đầu dân chúng thê lương như hiện thời.  


Cái chết của người nghèo cũng chưa bao giờ bị chế độ mặc định chắc chắn như giờ đây!
Read more…

Nơi nào có “lãnh tụ vĩ đại”, nơi đó nhân dân khổ nạn


Nơi nào có “lãnh tụ vĩ đại”, nơi đó nhân dân khổ nạn trùng trùng!
Có thể nói, lãnh tụ càng vĩ đại thì nhân dân càng nhỏ bé, lãnh tụ càng vĩ đại thì khổ nạn của nhân dân càng thê thảm. “Lãnh tụ vĩ đại” đi ngược lại trào lưu tiến bộ của thời đại, vì thế chính ông ta mới thích đáng gọi là phản động! Cái gọi là “lãnh tụ vĩ đại” chính là một loại uy quyền tuyệt đối trong cộng đồng nhằm kiểm soát toàn bộ đời sống xã hội: từ văn hóa, kinh tế, quân sự, chính trị đến đời sống dân sinh và tư duy của cá nhân đều bị kiểm soát chặt chẽ, mọi người chỉ có cách duy nhất là phục tùng tuyệt đối, trung thành tuyệt đối người lãnh đạo.
“Lãnh tụ vĩ đại” có thực hiện bốn quyền tự do 
nền tảng theo cựu tổng thống Mỹ Roosevelt?
Bốn quyền tự do nền tảng theo Roosevelt 
Ông Mao Trạch Đông, cựu lãnh đạo đảng Cộng sản Trung Quốc (ĐCSTQ) từng hứa thực hiện 4 quyền tự do nền tảng theo quan điểm cố Tổng thống Mỹ Roosevelt:
1. Tự do tôn giáo tín ngưỡng (Freedom of religious belief)
Một người có thể lựa chọn theo một tôn giáo tín ngưỡng nào hoặc không theo tôn giáo tín ngưỡng. Bất cứ tôn giáo tín ngưỡng nào cũng không thể vì niềm tin của mình mà cấm cản quyền tự do tôn giáo tín ngưỡng của người khác.

2. Tự do biểu đạt (Freedom of expression)

Tín ngưỡng phải nhờ biểu đạt để thực hiện. Tự do biểu đạt bao gồm các quyền tự do: ngôn luận, xuất bản, lập hội, lập đảng, biểu tình thị uy, bãi công, sáng tạo, thảo luận.

3. Tự do khỏi nỗi khiếp sợ (Freedom From Fear)

Tương tự như quyền sống, quốc gia không được để cuộc sống của công dân chìm trong nỗi khiếp sợ. Ở đây hàm nghĩa không được phép xâm phạm bất hợp pháp thân thể và tài sản người khác, không được khám xét vô bằng cớ, không được phỉ báng làm nhục người khác.

4. Tự do khỏi đói nghèo (Freedom from Want)

Tương tự như quyền phát triển đời sống, quyền tự do này liên quan đến các phương diện lao động, đi lại, giáo dục, thương mại, văn hóa, nghỉ ngơi.

“Lãnh tụ vĩ đại” tước đoạt 4 quyền tự do nền tảng

Như vậy, “lãnh tụ vĩ đại” có bảo đảm cho nhân dân được hưởng 4 quyền tự do cơ bản này không?

Dĩ nhiên là không, hơn nữa còn ngược lại, “lãnh tụ vĩ đại” và “4 quyền tự do nền tảng” trái ngược như nước với lửa, không đội trời chung, muốn luyện thành “lãnh tụ vĩ đại” thì phải không từ thủ đoạn, phải tước đoạt hết 4 quyền tự do nền tảng này của nhân dân.

Không thể cho phép tự do tín ngưỡng, vì nếu cho phép tự do tín ngưỡng thì liệu có còn “lãnh tụ vĩ đại” không? Muốn có “lãnh tụ vĩ đại” phải xây dựng lý luận tin vào “lãnh tụ vĩ đại”, tin vào trí tuệ siêu phàm của “lãnh tụ vĩ đại”, mỗi câu nói của “lãnh tụ vĩ đại” đều là chân lý. “Lãnh tụ vĩ đại” không chỉ là vua mà còn vượt xa vua, vua không cần thiết mọi người phải ngưỡng mộ, vua trị nước cần nương nhờ vào đạo trời, vua phong kiến (Trung Quốc và những nước ảnh hưởng) nhờ vào lý luận của Nho giáo, vì thế ngay cả Tần Thủy Hoàng, Hán Vũ Đế, Đường Thái Tông cũng không trị quốc bằng tư tưởng/lý luận/chủ nghĩa của mình, họ chỉ cần phục tùng theo chứ không cần ngưỡng mộ, vì bách tính tin theo Phật, tin theo Đạo. Còn “lãnh tụ vĩ đại” muốn nhân nhân ngưỡng mộ mình vô hạn độ. Tín ngưỡng ở đây chính là bản thân “lãnh tụ vĩ đại”, là ngưỡng mộ “lãnh tụ vĩ đại”, vì thế không được tin theo Thần, Tiên, Đạo.

Theo tín ngưỡng Thiên Chúa và Cơ Đốc giáo, trước Thượng đế mọi người đều là tội nhân, mọi người bình đẳng, “lãnh tụ vĩ đại” cũng là người, cũng là tội nhân, dựa vào đâu mà ông ta được phép sở hữu quyền lực tuyệt đối?

Tín ngưỡng Phật giáo cũng xem “lãnh tụ vĩ đại” là người, là một thể xác người ra đời theo nhân duyên, có gì đáng ngưỡng mộ?

Vì thế nếu cho phép những tín ngưỡng này tồn tại thì không còn chỗ đứng cho “lãnh tụ vĩ đại”. Vì mọi người chỉ được ngưỡng mộ, quỳ lễ và ca ngợi “lãnh tụ vĩ đại” nên tự do tín ngưỡng chỉ còn giảm trừ thành tự do ngưỡng mộ “lãnh tụ vĩ đại”.

Nhưng “lãnh tụ vĩ đại” lại không phải thần thánh, quyền lực của ông ta không có tính chính danh do trời đất ban cho, vì thế “lãnh tụ vĩ đại” phải dựa vào vũ lực để duy trì quyền lực mãi mãi. Nhưng ông ta chỉ là một thân xác phàm do cha mẹ sinh ra, thứ ông ta ăn là ngũ cốc lương thực các loại, răng ông ta cũng đen, hơi thở cũng hôi thối, cũng hay bị ợ nấc, cũng bị cảm nhiễm vì vi trùng, cũng chảy nước miếng, buổi tối cũng phải đi ngủ, cũng thất tình lục dục, cũng khó qua ải mỹ nhân… làm sao ông ta có thể đảm bảo luôn công chính được? Ông ta phải dùng cỗ máy quốc gia tuyên truyền ca ngợi ông ta vĩ đại, quang vinh, công chính, không cho phép ai nghi ngờ địa vị tuyệt đối của ông ta, nếu ông ta tuổi thọ vô biên thì sẽ mãi mãi không bao giờ buông bỏ quyền lực. Vì thế, không bao giờ ông ta cho phép cái gọi là phê bình, giám sát, bầu cử, thị uy, bãi công tồn tại trong từ điển của dân chúng. Quyền tự do lên tiếng chỉ còn lại là tự do ca ngợi “lãnh tụ vĩ đại”.

Nhưng trong nhân dân luôn có những người thông sáng và dũng cảm, dám chất vấn “lãnh tụ vĩ đại”. Với những ai nghi ngờ và phê bình, “lãnh tụ vĩ đại” xem là “ngông cuồng phản động”, là “suy thoái biến chất”, vì thế phải diệt trừ hậu họa, phải làm cho cuộc sống của phần tử này chìm trong khủng bố, hoảng sợ. Những ai không tuân phục có thể bị liên lụy đến người nhà, bạn thân, làm cho đa số mọi người phải sợ hãi, nhiều người đành phải im lặng giữ mình. Như thế, quyền bảo đảm an toàn tài sản và thân thể không được pháp luật bảo vệ, chỉ cần bị quy chụp là kẻ thù giai cấp là trở thành tội nhân. “Lãnh tụ vĩ đại” dùng khủng bố vũ lực để thống trị, quyền tự do khỏi nỗi khiếp sợ chỉ thuộc về bản thân “lãnh tụ vĩ đại”.

Sự thống trị của “lãnh tụ vĩ đại” dĩ nhiên phải chuyên chế, cuộc sống xã hội theo đó bị khống chế toàn diện. Ông ta dùng danh nghĩa “quốc gia” tịch thu toàn bộ đất đai, nhà cửa, gia sản của nhân dân, xây dựng nên chế độ thứ bậc tôn ti chặt chẽ và chế độ hộ khẩu, kiểm soát chặt chẽ nhu cầu đi lại của mọi người, từng chén cơm của mọi người đều nằm trong kiểm soát của quốc gia, biến chân lý “người không làm không có ăn” thành “người không phục tùng không có ăn”, những ai dám chống đối bị liệt vào “phần tử bất hảo”, không thể tìm được nơi ăn chốn ở, chỉ còn cách nằm chờ chết ngoài đầu đường xó chợ. 

Để làm nổi bật ân đức của “lãnh tụ vĩ đại” cần làm cho muôn dân luôn sống trong đói nghèo cùng cực, có chén cơm là nhờ công ơn của “lãnh tụ vĩ đại”, tương tự như Bắc Triều Tiên ngày nay. Nếu có “tự do thoát khỏi đói nghèo”, quốc dân có đất đai, nhà cửa, tài sản mà “thần thánh không được xâm phạm”, vậy thì “lãnh tụ vĩ đại” làm sao có thể tùy tiện sai khiến, tùy tiện nô dịch nhân dân? “Tự do thoát khỏi đói nghèo” đã bị “lãnh tụ vĩ đại” và giai cấp đặc quyền đặc lợi độc chiếm, đa số nhân dân theo đó bị bần cùng hóa.

Như vậy, “lãnh tụ vĩ đại” đã độc chiếm toàn bộ 4 quyền tự do cơ bản của nhân dân, mọi người bị lùa vào trong cái lồng nô lệ, đây là căn nguyên của khổ nạn.

Tiêu chí quan trọng hàng đầu của lý thuyết chính trị hiện đại chính là hạn chế quyền lực chính phủ, bảo vệ quyền lợi của công dân. Mấu chốt hạn chế quyền lực Chính phủ chính là hạn chế quyền lực của lãnh đạo cao nhất, không cho phép “lãnh tụ vĩ đại” được xuất hiện. Nhưng “lãnh tụ vĩ đại” thì muốn đi ngược trào lưu thế giới, muốn sở hữu quyền lực vô hạn, thu nhỏ tối đa quyền lợi của nhân dân.

Có thể nói, lãnh tụ càng vĩ đại thì nhân dân càng nhỏ bé, lãnh tụ càng vĩ đại thì khổ nạn của nhân dân càng thê thảm.

“Lãnh tụ vĩ đại” đi ngược lại trào lưu tiến bộ của thời đại, vì thế chính ông ta mới thích đáng gọi là phản động!

Theo Facebook Đường Hải (Nguyễn Đoàn dịch)
http://trithucvn.net/blog/noi-nao-co-lanh-tu-vi-dai-noi-nhan-dan-kho-nan-trung-trung.html
Read more…

Ném dép vào mặt quan và dép dùng để đến cửa quan


Ném dép vào mặt quan và quảng cáo dép để đi đến cửa quan
Thao Teresa

 Ai bảo đấu tranh bao năm qua mà xã hội không thay đổi nào ? Sự việc ông phó chánh án toà án cấp cao của HN bị dân cho ăn dép vào mặt như hôm nay thật quá xứng đáng và là một bước tiến mới. Việc làm này rất đáng phát huy và nhân rộng bởi người dân họ phản ứng khi các cơ quan điều hành luật pháp không thể tìm ra thủ phạm giết người trong suốt hơn 11 năm trời. Không những thế còn kết án bỏ tù oan người vô tội. Điều đó cho chúng ta thấy nền Tư Pháp cộng sản nó tồi tệ đến mức nào . Nhân dịp sự kiện vui như này ngày mai mình sẽ đi mua đôi dép y chang để làm kỷ niệm.
Nguyễn Phương Lợi dụng thời cơ, một số bạn đã tung ra thị trường loại dép Made In Japan xách tay. Rất thích hợp để bà con mang đi đến nơi công sở, toà án, viện kiểm sát, đồn công an, hải quan, thuế vụ, thậm chí mang đi đón tiếp lãnh đạo trong nước và quốc tế... Trung Hoa. Đất nước Nhật Bản có ngày hôm nay nhờ loại dép này đó các bạn...
Read more…

Một số mẫu guốc dép dùng khi ra tòa


Một số mẫu guốc dép dùng khi ra tòa
Trên mạng có 1 sô mẫu khá buồn cười, tiếc là không lưu lại nên giờ không biết chúng nằm ở đâu. Dưới đây chỉ là vài loại trong số đó.

L’image contient peut-être : 1 personne, chaussures et texte
L’image contient peut-être : 1 personne, chaussures et texte
Read more…

phỏng vấn Vũ Thư Hiên về quyền lực của Hồ Chí Minh (phần 3)

   
                         

Nguyễn Thị Từ Huy (NTTH)- Như vậy trong việc bổ nhiệm cán bộ sau năm 1946 ông Hồ không thực sự có quyền ?

Vũ Thư Hiên:

- Ông Hồ Chí Minh không còn bao nhiêu quyền lực như năm 1946, bắt đầu sớm hơn, nó ít dần từ năm 1947 kia, khi chính phủ rời Hà Nội lên Việt Bắc, theo cha tôi. Chủ tịch phủ thời kháng chiến đóng ở Thác Dẫng huyện Sơn Dương (Tuyên Quang) hầu như rất ít công việc. Tôi có thời gian ở đấy, khoảng độ nửa năm. Tôi và anh Phạm Sĩ Liêm (sau làm phó chủ tịch Hà Nội) cùng làm việc ở đó như một thứ nhân viên văn phòng, làm cả việc chép sách kinh điển mác-xít, cả việc chạy công văn khi hai cậu liên lạc tên Bính và Phoóng, người Tầy, lên cơn sốt rét. Quan sát công việc của Chủ tịch phủ lúc bấy giờ tôi thấy nó giống một cái cơ quan hành chính rỗi việc. Các sắc lệnh do bên đảng quyết, các cán bộ chủ tịch phủ soạn văn bản, ông Hồ Chí Minh ký. Phủ chủ tịch không phải, không hề giống cơ quan chỉ huy cuộc kháng chiến chống Pháp. Nói nó là đại bản doanh của chính phủ kháng chiến như người ta miêu tả là nói quá. Những quyết định quan trọng cho cuộc kháng chiến là ở những cuộc họp, chúng diễn ra không phải ở một nơi nhất định, chắc chắn không ở thác Dẫng. Chủ tịch phủ không phải là nơi điều khiển công việc điều hành đất nước. Tất cả các cơ quan đầu não của cuộc kháng chiến đóng trong một khu an toàn (gọi tắt là ATK) , có một trung đoàn bảo vệ, lấy bí danh là tiểu đội Thanh Sơn. Có thể nói sự xa cách về địa lý giữa các cơ quan cũng làm cho ông Hồ dần mất quyền quyết định trong mọi việc. Nơi ông Hồ ở là Núi Hồng cách thác Dẫng không xa. Ông thường chỉ ra thác Dẫng khi tiếp khách. Mọi cơ quan đều mang bí danh: Chủ tịch phủ là ban Kiểm tra 12, Bộ nội vụ là Tiểu đội 1. Bộ Thông tin Tuyên truyền là Ban canh nông xã Công bằng. Nha công an Việt Nam là Ông Cả Nhã hiệu Việt Yên. Các cơ quan đều ở cách nhau khá xa, gần nhất cũng năm bảy cây số đường rừng. Liên lạc giữa các cơ quan đều dùng người chạy công văn, không có điện thoại dây hoặc phương tiện khác. Ngay giữa chủ tịch phủ và nơi ông Hồ ở cũng liên lạc bằng công văn chạy bộ. Lúc bấy giờ Hồ Chí Minh không còn nhiều người ở bên cạnh như khi ở Hà Nội. Trong tình hình ấy vai trò của ông Trường Chinh khác trước rất nhiều. Vì sao? Vì tất cả các tỉnh uỷ, tức là hệ thống đảng, là do Trường Chinh nắm, mà nguyên tắc đảng lãnh đạo thì cả hệ thống hành chính đều tùy thuộc vào nó (đảng). Sự chỉ huy này không nằm ở chủ tịch phủ. Một thí dụ: Trung Quốc nhiều lần nhắc nhở, mà nhắc nhở ông Trường Chinh, chứ cũng không cần nhắc nhở ông Hồ Chí Minh, rằng để một người do đế quốc đào tạo làm Bộ trưởng Bộ công an là không được. Bên Trung Quốc không làm như thế. Ông Hồ có hỏi cha tôi nghĩ sao về việc thay ông Lê Giản bằng Trần Quốc Hoàn. Cha tôi trả lời : “Anh Hoàn ở tù cùng với tôi ở Sơn La. Người này không có học. Bộ này cần người có học”. Chuyện Trần Quốc Hoàn là người thế nào tôi có viết trong hồi ký “Đêm Giữa Ban Ngày”. Vì ăn cắp chữ chì có hàm lượng antimoine cao của nhà in IDEO để bán cho các lò đúc gang, Trần Quốc Hoàn bị bắt. Trong tù, Hoàn được mấy ông cộng sản thương tình khuyên là nên khai lấy chữ chì cho đoàn thể để in truyền đơn, thì sẽ được xem là tù chính trị, sẽ không bị đánh đập như tù hình sự. Thế là Trần Quốc Hoàn trở thành tù chính trị. Lúc đó Lê Đức Thọ cũng ở Sơn La. Lê Đức Thọ lấy em vợ của ông Đặng Châu Tuệ, một cán bộ cách mạng lão thành, bà này có một cửa hàng sách ở Nam Định, hằng tháng gửi cho chồng 5 piastres (năm đồng bạc Đông Dương), trong khi giá gạo chưa tới 2 piastres một tạ. Lê Đức Thọ chỉ cần thuê Trần Quốc Hoàn chừng 5 hào (50 centimes) là đủ để Trần Quốc Hoàn vui vẻ phục dịch Thọ mọi việc hàng ngày. Sau này người hầu mẫn cán được Lê Đức Thọ nhớ đến, đưa lên làm Bộ trưởng Bộ công an.

- Nhưng nếu nói là Hồ Chí Minh không có thực quyền thì công lao của ông Hồ đối với hai cuộc kháng chiến nằm ở đâu ?

- Nằm ở hình ảnh ông ấy, được ngành tuyên truyền dày công dựng nên. Ông được thánh hoá trong sự sùng bái, cứ như thể ông là người lãnh đạo trong mọi việc. Trong thực tế, công việc chỉ huy (tôi không muốn dùng chữ lãnh đạo với ý nghĩa người có được sự đồng thuận của nhân dân coi là người chỉ đường cho mình) nằm trong tay Trường Chinh và Võ Nguyên Giáp, (về danh nghĩa thì có cả Phạm Văn Đồng, nhưng ông này chẳng quyết định việc gì), tiếp đến là Lê Duẩn, Lê Đức Thọ. Căn cứ vào một bằng chứng duy nhất được nhiều người biết thì đến năm 1964 ông Hồ mới thực sự bị loại khỏi hệ thống quyền lực. Bằng chứng ấy là:trong một cuộc họp với cán bộ tuyên giáo ở Hưng Yên vào năm này, Tố Hữu đã nói: “Ông Cụ lẫn cẫn rồi. Bây giờ mọi việc do anh Ba và chúng tôi đảm nhiệm”. Mà Tố Hữu, uỷ viên Ban Bí thư trung ương đảng, có thể coi như người phát ngôn chính thức của ban lãnh đạo đảng.

NTTH:-Vấn đề là tại sao bộ máy quyền lực phải tuyên truyền cho ông Hồ ? Tại sao trong kháng chiến chống Pháp ông Trường Chinh không làm một chiến dịch tuyên truyền hình ảnh của mình ?

Vũ Thư Hiên:

- Trường Chinh có muốn thế cũng không được. Trong đảng lúc ấy còn rất nhiều người tính về thâm niên cách mạng còn hơn Trường Chinh. Họ không dễ tán đồng một sự sùng bái như thế. Vào giai đoạn năm 45-46 ông Hồ đã là một ngôi sao sáng rồi, sáng đến mức không thể dập tắt được, để có thể thay thế bằng một ngôi sao khác. Ông Hồ được tuyên truyền rộng rãi như một người suốt đời tận tuỵ với dân tộc, không ham hố quyền lực cũng như danh vọng. Trường Chinh không thể nào sánh bằng. Người ta chỉ có thể tuyên truyền cho vai trò Trường Chinh bằng cách phát hành lẫn vào chân dung các lãnh tụ cộng sản quốc tế: Marx, Engels, Lenin, Stalin, với Hồ Chí Minh và Trường Chinh được treo ở vị trí thấp hơn. Những chân dung màu đẹp đẽ được in ở bên Tàu, bằng giấy tốt, được phát không cho dân chúng, được trang trọng treo ở các nhà bên trên cái gọi là ban thờ tổ quốc. Tôi cho rằng trong một bối cảnh như thế ông Hồ cũng chẳng cần đến quyền lực, nó chẳng để làm gì, một khi ông đã được đàn em bê lên bệ thờ, được mê mẩn trong khói hương với những bản tụng ca không lúc nào tắt tiếng ở bên dưới.

NTTH:- Một câu hỏi ngoài lề: trong sinh hoạt, ông Hồ Chí Minh là người thế nào?

Vũ Thư Hiên:

Theo tôi biết, mà biết chắc, về chuyện ăn uống, ông là người rất giản dị, có thể dùng chữ “đạm bạc”. Trong kháng chiến chống Pháp, mọi thứ đều thiếu. Mọi người chiều ông, rất quan tâm bữa ăn cho ông, ông muốn ăn gì chẳng được, nhưng tôi biết, ông không hề đòi hỏi. Bữa ăn của ông thường chỉ có rau dưa, vài khúc cá kho mặn (người Nghệ mà). Người ta chiều ông đến nỗi khi nghe ông nói thèm cà Nghệ, thế là cà Nghệ được chuyển từ Nghệ An, qua bao nhiêu tỉnh, qua cả vùng địch chiếm, để mang tới Việt Bắc quả cà còn tươi nguyên. Đó là lòng dân, là chuyện có thật, chính tôi được ăn ké món cà muối xổi. Trong ông Hồ, theo tôi thấy, bằng mắt mình, có một anh nông dân thâm căn cố đế. Tôi nhớ những lần ông ra thác Dẫng, anh Phạm Sĩ Liêm khoe bí đỏ đậu nhiều lắm, thế là ông tức tốc ra vườn cùng anh Liêm kiếm cái lót dưới quả bí non để nó không bị thối, còn tôi thì có thể lợi dụng thời gian đó ung dung xoáy của ông vài điếu thuốc lá cho hai đứa. Phải rất nông dân thật thà mới nói thế này với ông bà Trần Duy Hưng: “Cô chú đông các cháu, hằng tháng cho các cháu lên ăn với tôi một vài bữa".  Lời kể của ông Trần Duy Nghĩa, con bác sĩ Trần Duy Hưng, cho tôi thấy thêm một lần chất nông dân của ông, khi đứa trẻ Trần Duy Nghĩa vô ý làm vãi vài hạt cơm trong bữa ăn với ông Hồ. “Cháu phải biết: cái này là của ngọc thực, nông dân phải làm lụng một nắng hai sương mới ra được hạt gạo, cháu nhặt lên mà ăn nhá!” – ông nhẹ nhàng bảo. Đức tính tiết kiệm của ông được nói đến nhiều, được ca ngợi nhiều, nó cũng là sự thật. Bên cạnh sự thật ấy có một sự thật khác. Ông Hồ không thể bỏ thói quen nghiện thuốc lá ngoại. Thuốc lá ngoại thời kháng chiến rất đắt, phải mua ở các chợ giáp ranh giữa vùng giải phóng và vùng tạm chiếm, tiền mua vài bao thuốc có thể nuôi sống một gia đình nông dân đông con một tháng. Ông nghiện thuốc lá Mỹ: Craven A, Phillips Morris, State Express 555, đôi khi là Camel, không bao giờ ông hút thuốc lá Pháp như Bastos, Melia, Cotab. Tôi không biết nếu người ta không chiều ông, lo thuốc lá Mỹ cho ông hút thì tình hình sẽ ra sao? Ông có hút thuốc sừng bò như bộ đội không? Người ta đã chiều, và tôi nghĩ chiều thế cũng phải thôi, ông dù sao cũng là chủ tịch một nước, mà ông không có đòi hỏi gì hơn. Tôi có đọc một hồi ký buồn cười khi thấy tác giả viết rằng người ta dùng một đại dội biệt động áp tải cả tạ thuốc lá từ Hà Nội ra cho ông Hồ hút. Cứ như thể ông ấy hút mỗi ngày vài tút, và thuốc lá dự trữ không bao giờ bị mốc. Còn chuyện khi về Hà Nội ông có đầu bếp riêng, ông thích ăn ngon, với những món ăn khó kiếm như gà Quảng Châu vv…, tôi không được biết, thời kỳ này tôi không còn có dịp gặp ông, được ăn cùng ông để biết bữa ăn của ông thế nào, nhưng tôi tin những bài viết ấy là thực. Cái gọi là tiêu chuẩn cho “lãnh tụ”. nó còn hơn suất “đặc táo” trong kháng chiến rất nhiều. Các ông “lãnh tụ” tự cho mình có quyền được hưởng những thứ mà dân thường không thể hình dung, là chuyện bình thường. Có hẳn một “Ban bảo vệ sức khoẻ Trung ương” lo toan đủ thứ cho các vị được sống sung sướng, sống hạnh phúc cơ mà. Cái gì ta không biết, ta có thể tưởng tượng.

 Xin mời quý vị xem Video : Người có quyền hành cao nhất điều khiển cả tập thể Bộ Chính trị Khóa 12 bây giờ là ai? 

               

Có nhiều người cho rằng trong việc chuyển đổi thể chế từ độc tài cộng sản sang dân chủ phải bắt đầu từ việc giải thiêng hình tượng ông Hồ Chí Minh. Tôi không nghĩ như vậy. Tôi cho rằng những cuộc đấu tranh nhằm vào những sai trái của thể chế hiện tại, đấu tranh từng điểm một, tiến lên từng bước một, đưa đấu tranh từ ngoài vào trong, khuyến khích đấu tranh từ trong ra ngoài, mới là cái quan trọng sẽ dẫn tới sự chuyển đổi mong muốn.

NTTH- Xin cảm ơn ông về cuộc phỏng vấn này.

Nguyễn Thị Từ Huy

(Blog RFA)

Read more…

Tôi tin Viettel trong sự kiện Mỹ Đức!

Lê Công Định (Fb): Đọc cả một bài viết dài của nhà báo Lê Bình về Viettel và ông Tổng giám đốc Viettel, nói thật tôi rất thích đoạn kết luận cuối, bởi vì hàm ý sâu xa của chị:

"Việc ở Đồng tâm, đừng lôi Viettel vào như một DOANH NGHIỆP ĐI CƯỚP ĐẤT. Tôi tin Viettel không làm việc đó, Và Ông HÙNG KHÔNG NGU ĐỂ PHẢI ĐỐI ĐẦU VỚI NGƯỜI DÂN ĐỒNG TÂM."

Khi khẳng định ông Hùng không ngu, chị Lê Bình ngụ ý rằng nhà cầm quyền đã ngu khi dùng cảnh sát cơ động tràn vào xã Đồng Tâm, vừa cướp đất, vừa đối đầu với người dân Đồng Tâm.

Tôi không dám gọi nhà cầm quyền ngu vì khiêm tốn, nhưng chị thay mặt nhiều người nói thẳng như vậy, dù ngụ ý. Cám ơn chị Lê Bình. Tôi nể chị.

Nhà báo Lê Bình
Nhà báo Lê Bình, nguyên Giám đốc VTV24 vừa có đăng tải lên facebook cá nhân một câu chuyện về ông Nguyễn Mạnh Hùng, Tổng giám đốc Viettel, và nhận định vai trò của Viettel trong sự kiện Mỹ Đức...

 PV xin đăng tải ý kiến của nhà báo Lê Bình (tiêu đề bài viết do tòa soạn tự đặt):

"Tôi gặp ông Hùng khi còn đang làm ở VTV 24, hôm ấy chúng tôi được triệu tập họp bàn kế hoạch hợp tác 2 bên, VTV và Viettel. Cuộc họp có đông đủ lãnh đạo 2 bên, gồm các thành phần. Ông Tổng Giám đốc của chúng tôi thì như thường lệ, nhẫn nại và từ tốn. ông Hùng thì có thái độ trịch thượng của một Người đang nắm giữ vị trí cao nhất của 1 tập đoàn lớn nhất cái hình chữ S này. Nói thật, tâm lý của Anh em VTV lúc đó rất khó chịu. Nhưng ai nấy đều tỏ ra dè dặt, e ngại.

 Lúc đó, tôi cũng ngứa mắt và như thường lệ tôi không giữ mồm. Đến lượt tôi phát biểu, Tôi nói :

"Anh Hùng ạ, làm việc mà không tôn trọng đối tác, không tạo được sự tin tưởng cho nhau thì cũng chỉ là hợp tác giả vờ, không thành công được".

Ngay lập tức, tôi bị một lãnh đạo Viettel đằn giọng. Mọi ánh mắt khó chịu đổ dồn về phía tôi. Nhưng ông Hùng thì nói : “Cứ để Lê Bình nói hết”.

Tôi được thể, nói một mạch về sự tôn trọng đối tác, về việc "Lớn chả chắc bắt nạt được nhỏ" . Mà chính Lớn mới phải sợ thằng Nhỏ hơn mình".

Ông Hùng lắng nghe và sau đó giọng dịu đi. Hôm đó, kết thúc cuộc họp với không khí khá vui vẻ.

Lúc ra ngoài cuộc họp, tôi nói với ông Hùng :" Anh Hùng ạ, anh luôn đi làm việc với thái độ trịch thượng thế à? Anh giỏi, ai cũng biết, nhưng anh giữ thái độ đó, người ta hợp tác với anh chả vui vẻ gì đâu và sẽ có lúc, người ta phản kháng. 

Ông ấy trả lời : "Anh không có ý đó".

Tôi : “Ít nhất, anh đang làm cho người ta thấy điều đó và đó là lỗi của anh”.

Ông ấy quay sang cô trợ lý : "Lần sau thấy anh có thái độ đó thì nhắc anh nhé".

Bạn cho là tôi dễ dãi cũng được, nhưng chỉ qua buổi nói chuyện đó. Tôi thấy tầm vóc của 1 doanh nhân lớn, không chấp tiểu tiết và sẵn sàng nghe ý kiến từ một đứa, so với ông ta là :" Tép riu" - như tôi.

Hôm ấy, tôi cũng ngỏ ý muốn ông ấy đến Đài nói chuyện 1 lần, cũng bất ngờ là ông ấy nhận lời ngay và yêu cầu tôi phối hợp set up. Gần 2 tháng sau, buổi nói chuyện được sắp đặt. Hôm ấy, ông Hùng nói về phương thức quản lý của Viettel, cách hành xử với nhân viên, cách dùng người và cách trị người. Phương thức quản lý của ông ấy phải nói là rất ấn tượng. ( Tôi còn nhớ nhiều nhưng quá dài để kể hết).

Ông ấy khẳng định : “Người tài không có khả năng tự vệ" . Ông bật mí về cách sử dụng người tài, bảo vệ người tài, khơi lên khát vọng cống hiến trong họ.

Ông ấy dành gần 10 phút đồng hồ để nói về 1 cô có vị trí kiểu như là tạp vụ, không làm quản lý, cũng chẳng giỏi công nghệ .Nhưng ông ấy ví cô ấy như mắt xích của một hệ thống, không có cô ấy những người tài kia không phát huy được sức mạnh của mình. Hôm ấy, mọi người lắng nghe, gật gù và thán phục ( tôi tin chắc, ai ghét ông Hùng cũng không thể không công nhận ông ấy là 1 người tài).

Đặc biệt, ông nói về khát vọng của 1 Việt Nam đứng thẳng, 1 Việt Nam có vị thế, có tiếng nói trên chính trường và đưa ra những điều kiện để Việt Nam có thể làm được điều đó. Ông ấy kể câu chuyện Viettel bứt phá ngoạn mục và khẳng định : Viettel làm được vì .. Họ nghèo, vì không có gì để mất.  Nhiều người sẽ cho là hoang đường. NHƯNG TÔI THÌ TIN.


Hôm rồi, ông Hùng lại khẳng định : Nghèo là 1 lợi thế của Việt Nam", ông ấy nói về công nghệ 4.0... tôi biết có người chỉ đọc mỗi cái tiêu đề thế là lên ngay 1 stt mỉa mai, chửi bới, đá xoáy.. 1 trào lưu xuất hiện. Tôi cá là 98% số đó còn chưa đọc hết bài báo hoặc chưa mảy may biết về cái gọi là 4.0. ( Tôi cũng không biết)./Tôi thì share 1 bài báo chính thống, có thiên hướng ca ngợi ông Hùng. Các ý kiến khen chê đang nóng lên trên status này thì một người anh tôi khá yêu quí nhắn cho tôi :"Viettel là Vinashin trên không gian và Hùng là kẻ lừa đảo ghê nhất Việt Nam đó em" . Sau 1 hồi trao đổi, anh có hứa là hôm nào cafe, anh sẽ cung cấp thông tin cho tôi thấy rõ hơn. Tôi đã rút status có đường link ca ngợi ông Hùng xuống. 

Nhưng thú thật, đến thời điểm này, Tôi vẫn chắc chắn, ÔNG HÙNG LÀ 1 NGƯỜI TÀI, RẤT TÀI và tôi vẫn nghĩ đúng hơn là HY VỌNG, Ông Hùng là 1 doanh nhân lớn, có khát vọng cống hiến. Vì nếu đúng như thế, thì Việt Nam có cơ hội để khẳng định vị thế của mình ở một tầm cao hơn. Đó là sự thật.

Tôi tin điều ông Hùng nói : " Dám ước mơ thì người bình thường cũng có thể làm những điều phi thường". Chí ít là ông ấy nói đúng.

Một người không chấp tiểu tiết là 1 người khoáng đạt, 1 doanh nhân để ý đến sự quan trọng của 1 người tạp vụ là một ông chủ biết dùng người, 1 người ngồi trên 1 đống tiền và muốn tiêu tiền cho mục tiêu xa hơn LÀ TIỀN là 1 người có tham vọng. Và nếu đó là 1 người có Khát vọng vì đất nước, vì dân tộc, thì đó là 1 NHÂN TÀI.

Việc ở Đồng tâm, đừng lôi Viettel vào như một DOANH NGHIỆP ĐI CƯỚP ĐẤT. Tôi tin Viettel không làm việc đó, Và Ông HÙNG KHÔNG NGU ĐỂ PHẢI ĐỐI ĐẦU VỚI NGƯỜI DÂN ĐỒNG TÂM".

 PV (theo Facebook nhà báo Lê Bình) / Ngaynay.vn

(Tin Tức)
Read more…

Contact us