Tập và Trump sẽ không gây chiến


Ngô Nhân Dụng

Ông Dương Khiết Trì đã làm xong nhiệm vụ: Donald Trump sẽ bắt tay Tập Cận Bình tại khu sân cù Mar-a-Lago do ông tổng thống Mỹ làm chủ tại Florida. Ðầu Tháng Mười Hai năm ngoái, Dương Khiết Trì (Yang Jiechi杨洁篪) đã tới Trump Tower ở New York của vị tổng thống Mỹ tân cử, rồi phải ra về tay không, chỉ gặp Tướng Michael Flynn, ông cố vấn an ninh, nay đã mất chức. Mới tuần lễ trước đó, ông Donald Trump đã nói điện thoại với Tổng Thống Ðài Loan Thái Anh Văn.
Hai ngày sau khi Dương Khiết Trì âm thầm ra về, ông Trump còn lên tiếng tố cáo Trung Cộng cố tình hạ giá đồng tiền để cạnh tranh bất chính với Mỹ, đả kích Trung Cộng xâm lấn các nước láng giềng ở Biển Ðông, rồi đặt câu hỏi tại sao nước Mỹ phải công nhận “Một nước Trung Hoa?” Nhưng ông Trì (tên ông có nghĩa là một loại sáo 8 lỗ) vẫn kiên trì. Hơn hai tuần sau khi nhậm chức, ông Trump đấu dịu, ngày 10 Tháng Hai, gọi điện thoại cho Tập Cận Bình để xác nhận chỉ có một nước Trung Hoa mà Ðài Loan vẫn là một tỉnh của nước đó. Ngày 27 Tháng Hai, Dương Khiết Trì bay qua gặp tổng thống Mỹ tại Tòa Bạch Ốc, xếp đặt cuộc họp mặt giữa Trump và Tập trong tuần này.
Ông “quốc vụ ủy viên, ngoại sự biện” của Trung Cộng không phải là người nổi tiếng khiêm nhường. Năm 2010, trong một cuộc họp các ngoại trưởng Ðông Nam Á tại Hà Nội, Dương Khiết Trì lúc đó chỉ là ngoại trưởng, đã chỉ mặt ngoại trưởng Singapore nói lớn tiếng: “Ngộ” là nước lớn, “Nị” là một nước nhỏ – trước mặt bà Ngoại Trưởng Mỹ Hillary Clinton.
Tập Cận Bình cần gặp Donald Trump, càng sớm càng tốt. trước đại hội thứ 19 của đảng Cộng Sản, vào mùa Thu năm nay. Cần gặp sớm, giống như năm 2013, họ Tập đã qua Mỹ gặp Barack Obama. Chỉ cần bắt tay với ông tổng thống Mỹ tại Sunnylands, California, họ Tập ghi một thành tích ngoại giao, nhờ đó củng cố thêm uy thế trong nội bộ đảng, cắt tỉa bớt vây cánh của Giang Trạch Dân và Hồ Cẩm Ðào vẫn ngồi đầy trong guồng máy. Năm nay, họ Tập cần trấn an dân chúng và các đảng viên rằng dù ông Trump nói gì thì nói, chỉ cần “lãnh đạo” qua bắt tay là mọi xung đột sẽ nguội dần. Trong năm tháng sắp tới, Tập Cận Bình có thể chú tâm chỉ lo “bố trí” nhân sự trong guồng máy lãnh đạo mới. Dương Khiết Trì đã lập được một công trạng với Tập Cận Bình, hy vọng đến cuối năm ông vẫn giữ được địa vị, dù đã tới tuổi về hưu.
Tập Cận Bình có thể tin rằng cuộc họp thượng đỉnh trong không khí thân mật, ở một nơi nghỉ mát không cần nghi lễ, sẽ đưa tới không khí hòa dịu. Ông Trump đã cho thấy là một người rất “biết điều.” Ông có thể thay đổi ý kiến, nói ngược lại những lời đã phát biểu. Nếu biết vuốt ve tự ái của ông, biết ca tụng ông đúng chỗ, ông có thể là một người rất dễ thương. Nhất là khi nhìn thấy các sự thật khách quan cho thấy hòa hoãn là con đường có lợi nhất, chắc ông Trump sẽ đồng ý.
Một vấn đề Tổng Thống Donald Trump công kích Trung Cộng nặng lời nhất là tình trạng khiếm hụt thương mại giữa hai nước. Ông kết tội Bắc Kinh “ăn gian,” gây ra tình trạng người tiêu thụ ở Mỹ “gánh vàng đi đổ sông Ngô” bao nhiêu năm qua. Trong năm 2016, Mỹ thâm thủng mậu dịch 347 tỷ đô la khi mua bán với Trung Quốc. Ông Trump đã dọa sẽ tăng thuế nhập cảng hàng Trung Quốc lên 45%, sẽ kết án Trung Quốc lũng đoạn tiền tệ để có lý do trừng phạt, vân vân. Nếu ông Trump thực hiện các lời đe dọa đó, hai nước không tránh được một cuộc chiến tranh mậu dịch, bên này đánh thuế hàng bên kia, cuối cùng cả hai sẽ làm cho cả thế giới cùng suy thoái.
Ông Tập Cận Bình có thể trình bày với ông Trump một sự thật khách quan là Bắc Kinh không tìm cách ghìm giá đồng tiền của họ xuống nữa, đó là chuyện quá khứ xa xôi! Từ 10 năm trở lại đây, đồng nhân dân tệ đã tăng giá 40% so với đồng tiền các nước lớn. Ba năm nay, Ngân Hàng Trung Ương Tàu đã tìm mọi cách giữ cho đồng nguyên không xuống giá khi đô la Mỹ tăng giá khắp thế giới. Bắc Kinh đã bỏ ra gần ngàn tỷ Mỹ kim dự trữ để mua đồng tiền của mình để thúc giá lên.
Tập Cận Bình có thể khiêm tốn thú nhận rằng nếu hai nước “gây chiến” về mậu dịch thì nước Tàu sẽ thiệt hại nặng hơn, ông Trump nghe sẽ hài lòng. Một phần năm hàng xuất cảng của nước Tàu bán qua Mỹ, giá trị lớn bằng 4% tổng sản lượng nội địa. Trong khi đó chưa tới 10% hàng xuất cảng của Mỹ bán sang Tàu, chưa tới 1% của GDP.
Nhưng nếu nước Mỹ mất 10% hàng xuất cảng đang bán sang Tàu thì nhiều xí nghiệp cũng khốn đốn. Chính các xí nghiệp này cũng đang vận động ông Trump đừng “gây chiến!” Trong tuần qua, chủ tịch các công ty “đại bàng” như Exxon Mobil và General Electric đã công khai yêu cầu tổng thống Mỹ đừng gây chiến tranh mậu dịch, cả thế giới sẽ gánh họa. Họ nhấn mạnh vào tương lai, khi tầng lớp trung lưu Trung Hoa trở thành một thị trường tiêu thụ đủ sức mua các sản phẩm đắt tiền của Mỹ. Hầu như họ đã bắt đầu rồi. Trong năm 2016, tiền do hãng Apple thu của khách hàng Tàu lục địa chiếm 22% tổng số thu trên toàn thế giới (dân Tàu chi gần 49 tỷ Mỹ kim). Tỷ số hàng bán cho nước Tàu của hãng Intel là 24%, thu gần 15 tỷ; Qualcomm 53%, Broadcom 54%, Texas Instruments 45%, Nike 12%, DuPont 9%, Procter and Gamble 8%, vân vân. Những công ty này chắc đều đang “lóp bi” với Quốc Hội và Tòa Bạch Ốc xin tránh gây chiến! Công ty Boeing (11% số thu là bán cho Trung Quốc) đã bán hơn 60 tỷ đô la máy bay cho nước Tàu kể từ năm 2000, trong khi chi dưới một tỷ mua đồ phụ tùng và góp vốn qua bên Tàu. Các nhà sản xuất dầu, khí ở Texas, xe hơi ở Michigan, các nhà máy giấy ở Georgia, và đặc biệt là các nhà nông ở vùng Trung Tây (đậu nành và bắp) sẽ được những đại biểu Quốc Hội cùng các vị thống đốc tiểu bang của họ giúp nói với chính phủ liên bang. Thị trường Trung Quốc đứng hàng thứ ba trong số các nước nhập cảng của 33 tiểu bang ở Mỹ. Một nửa số trái cây và hạt giống nước Mỹ xuất cảng được bán sang nước Tàu!
Ông Tập Cận Bình có thể chứng minh người Tàu đang ủng hộ ông Trump tạo thêm công việc làm cho công nhân Mỹ, đúng lời hứa hẹn khi ông tranh cử. Những tiểu bang đang được các nhà đầu tư bên Tàu chiếu cố chắc chắn cũng khuyên Tổng Thống Trump đừng gây chiến. Các di dân từ lục địa Trung Hoa đã đầu tư 200 triệu đô la vào địa ốc và các công nghiệp khai thác dầu ở Texas. Trong năm 2015, các công ty Tàu đầu tư 16 tỷ vào nước Mỹ, năm 2016 đã tăng gấp ba, lên 46 tỷ – trong khi người Mỹ chỉ đầu tư 13 tỷ đô la vào lục địa. Thành phố Lancaster, California là nơi được công ty BYD lập nhà máy sản xuất xe hơi chạy điện, đang sử dụng 500 công nhân, và dự trù sẽ tăng lên gấp ba trong ba năm tới.
Nếu ông Trump thúc đẩy các công ty Mỹ bỏ Trung Quốc, về mở nhà máy trong nước thì sao? Ngân hàng đầu tư Goldman Sachs đã tính rằng nếu Target mua quần áo may ở Mỹ thì giá sẽ tăng lên ít nhất 46%; nếu Apple ráp điện thoại di động ở Mỹ thì giá sẽ tăng lên 37%, mà chắc những smartphones đó khó đem bán ra ngoài thế giới, dân Tàu cũng khó mua!
Nhưng khi người ta nói nước Tàu bán hàng hóa nhiều vào nước Mỹ gây cảnh khiếm hụt khổng lồ, thì không phải chỉ có nước Tàu được lợi. Bởi vì trong các món hàng “ma ze in China” đó có rất nhiều thứ đem từ nước khác vào ráp lại. Trong “dây chuyền tiếp liệu” quốc tế phức tạp này, bao nhiêu quốc gia khác cũng đang “bán hàng” cho dân Mỹ, những thứ nho nhỏ được chứa trong món hàng ráp ở nước Tàu.
Read more…

TANG CÁ CŨNG LÀ TANG ĐẤT NƯỚC



Dũng Phi Hổ 
---
Những người quàng khăn tang trắng tưởng niệm cho 1 năm biển chết: Nhà cầm quyền không để tang thì người dân để tang cho quốc nạn của một dân tộc.

Read more…

THƠ VIẾT NGÀY QUỐC GIỖ


Trần Nhương
Ngày Quốc giỗ thắp nén nhang bái vọng
Cầu xin cho quốc thái dân an
Cho nước Việt hiên ngang nhìn biển sóng
Dân không hèn vạn thuở vẫn Bình Than

Lòng li tán nếu không lo liệu trước
Nước xa kia sao cứu lửa gần
Dân là gốc hãy vì dân gắng sức
Lộc dân cho nên biết nghĩa nhân

Vua cày ruộng cùng áo nâu nón rách
Sao ngày nay cách bức quan – dân
Đừng ảo tưởng uy quyền là bất biến
Yêu kẻ sơ quên mất người thân


Vì đại nghĩa dưới trên là một khối
Lửa Diên Hồng rừng rực vẫn còn đây...
Read more…

Trình bày Lời Chúa cho người Việt Nam hôm nay

Thượng Hội đồng Giám mục Thế giới lần thứ XII, theo dự kiến sẽ nhóm họp tại Rôma từ ngày 5 đến ngày 26 tháng 10 năm 2008 với chủ đề: “Lời Thiên Chúa trong đời sống và sứ mạng của Giáo hội”. Với chủ đề ấy, các vị chủ chăn muốn cùng toàn thể con cái Giáo hội khám phá lại sức sống của Lời Chúa trong hành trình đức tin của người Kitô hữu. Bởi lẽ, Lời Chúa hay Kinh Thánh “đã và đang được xem như là quy luật tối cao hướng dẫn đức tin, được Thiên Chúa linh ứng và đã được ghi chép một lần cho muôn đời”[1]. Trong ý hướng đó, mọi thành phần dân Chúa được mời gọi hãy siêng năng học hỏi và đọc Thánh Kinh, vì Lời Thiên Chúa “sống động và linh nghiệm”[2], cũng như “có khả năng xây dựng và ban gia tài cho mọi người đã được thánh hiến”[3]. Lại nữa, trong thế giới hôm nay, con người ra như “ngại đối diện” với Lời Chúa, không muốn để Lời Chúa “cắt tỉa” những tham – sân – si của cuộc đời, nên việc khám phá lại Lời Thiên Chúa như là “sức sống và sứ mạng” của Giáo hội là việc cần làm.
Có một thực tế, chí ít là với người Công giáo Việt Nam, đó là có sự lầm lẫn trong khi tiếp nhận Lời Chúa. Hơn nữa, điều này không chỉ dừng lại nơi người tín hữu, nhưng còn xuất hiện cả nơi người trình bày và rao giảng Lời Chúa. Có chăng những người công bố và chia sẻ Lời Chúa luôn đặt ra những bắt buộc cho người nghe: “Ông bà phải thế này, các bạn phải thế kia…”? Có thật là Lời Chúa quá khô khan, để rồi khi cầm Sách Thánh lên là “buồn ngủ” ngay không? Những câu hỏi như trên dường như là có thật khi người ta muốn “luân lý hóa” Lời Chúa trong cách trình bày, hoặc khi người ta coi Sách Thánh như một quyển sách về nguồn gốc vũ trụ vạn vật. Một số khác thì đón nhận Lời Chúa theo “não trạng thực dụng”, nghĩa là họ mong muốn được một mối lợi nào đó theo kiểu con người khi nghe Lời Chúa. Như thế, trả lời cho những câu hỏi này, thiết tưởng khi trình bày Lời Chúa, điều cần làm là giúp người tín hữu nhận ra rằng: “Trong các Sách Thánh, Chúa Cha trên trời bằng tất cả lòng trìu mến đến gặp gỡ con cái mình và ngỏ lời với họ”[4]. Và khi đó, họ nhận ra Lời Chúa là Lời tình yêu. Để từ đây, mỗi người tự nguyện sống với Lời như một kết ước bền vững muôn đời.
1- NHỮNG LẦM LẪN KHI ĐỐI DIỆN VỚI LỜI CHÚA
a/ Đón nhận Lời Chúa theo “lối thực dụng”
Não trạng thực dụng trong đời sống ngày nay mang nhiều sắc thái khác nhau, mà điều này cũng phản ánh rõ nét trong những lệnh lạc về đời sống đức tin của người Kitô hữu như: tinh thần vụ lợi, thái độ nệ luật, lối sống dễ dãi… Để rồi khi đón nhận Lời Chúa, não trạng này cũng khiến một số người tỏ thái độ theo kiểu “thưa Thầy, theo Thầy thì chúng con được gì?”[5]. Có lẽ đây là não trạng được con người thời đại coi là bình thường. Người ta dễ dàng đặt điều kiện với Lời Thiên Chúa, thậm chí là so sánh Lời Thiên Chúa với những giá trị vật chất. Với những người này khi đứng trước chọn lựa giữa Lời Chúa và những lợi nhuận vật chất, thì họ ưu tiên cho điều thứ hai. Không ít tín hữu cảm thấy mất thời gian khi nghe Lời Chúa hoặc nghe giảng giải về Tin mừng. Chẳng vậy mà ngày nay chúng ta vẫn bắt gặp đâu đó những người tìm đến nơi nào có Thánh Lễ nhanh nhất để tham dự theo lối “giữ đạo gốc”. 
Một chiều hướng khác là có những người đón nhận Lời Chúa với mục đích cho bản thân họ được hưởng phước Thiên đàng mai sau. Họ không nhận thấy giá trị đích thực của Lời Chúa là mời gọi họ sống trong tình yêu với Thiên Chúa và với tha nhân. Chính thái độ này làm cho đời sống đạo ngày một tục hóa, xa rời Thiên Chúa và xa lạ với con người thời đại. Xét một cách nào đó, đây thật sự là điều tệ hại, vì “đối với người Kitô hữu, xao lãng bổn phận trần thế, tức là xao lãng bổn phận với tha nhân và hơn nữa đối với chính Thiên Chúa, khiến phần rỗi đời đời của mình bị đe dọa”[6]. Thái độ đón nhận Lời Chúa với não trạng thực dụng như thế, thay vì “được” điều gì đó thì người ta lại “mất” tất cả. Làm thế nào để người Kitô hữu gặp gỡ được chính Chúa trong khi đón nhận Lời của Ngài và được biến đổi, chứ không phải chỉ xoay sở hoặc thu góp những công phúc cho bản thân là câu hỏi được đặt ra cho tất cả mọi người.
b/ Luân lý hóa Lời Chúa
Đây là điều thường xảy ra nơi những người có trách nhiệm chia sẻ Lời Chúa trên bục giảng. Tình trạng này tưởng như chỉ xảy ra cách đây nhiều năm trước, trong bối cảnh mà các vị linh mục như một người “có quyền phán quyết” nhiều sự. Thực tế ngày nay, chúng ta vẫn bắt gặp đó đây lối giảng “phải thế này, phải thế kia…” rất tiêu cực trong mục vụ sống đạo của không ít vị linh mục. Chúng ta có thể đưa Lời Chúa vào trong đời sống thường nhật của mỗi người, nhưng thay vì giúp người tín hữu “nhận ra sứ điệp Lời Chúa như một lời công bố Tin mừng, công bố việc Chúa làm, thì người ta lại chỉ rút tỉa những đòi hỏi con người phải làm; thay vì mở lòng để đón nhận sức sống và tình yêu của Chúa, thì người ta chỉ chú ý đến quyết tâm của con người. Không nhận ra tính chất mục vụ của các mầu nhiệm cứu độ, người linh mục chỉ lượm lặt những bài học, triển khai theo lối so sánh hoặc tinh thần hiếu kính để nhấn mạnh tới đòi hỏi luân lý đối với người Kitô hữu”[7]. Không chỉ dừng lại ở việc biến bài giảng thành giáo huấn luân lý và kỷ luật, nhưng nhiều khi lời giảng của linh mục còn có khuynh hướng lôi kéo người giáo dân ra khỏi cuộc sống thật, để đưa họ vào khuôn khổ quản trị theo ý riêng mình.
Hậu quả của việc “luân lý hóa” Lời Chúa trong lời giảng của các vị có trách nhiệm rao truyền Tin mừng là gì? Đó chính là biến Công giáo thành một thứ đạo nặng nề, với quá nhiều cái “phải” thực thi trong đời sống đức tin, không còn diễn tả được nét đẹp và ý nghĩa tích cực của Kitô giáo. Nếu Lời Chúa chỉ dừng lại ở bài học luân lý thuần túy, thì vô hình chung, Kitô giáo cũng chỉ là một thứ đạo dạy “ăn ngay ở lành”. Trong khi Lời Chúa không phải là sự thách đố những nỗ lực luân lý của con người. Đạo Chúa cũng không thể nào là con đường khó khăn mà chỉ những người được giáo dục hoàn hảo hoặc tuân giữ lề luật tốt mới có thể đi theo. Ngược lại, Lời Chúa trong toàn bộ Kinh thánh diễn tả ơn Cứu độ của Thiên Chúa dành cho con người trải dài trong lịch sử của một dân tộc còn nhiều sai lỗi, thất tín và bất trung. Như thế, áp dụng Lời Chúa vào đời sống thường ngày của người Kitô hữu là làm nổi bật nét đặc trưng của Tin mừng cứu độ với cách thức “cùng với Chúa Giêsu để đi con đường hoàn thiện như Cha trên trời”.
c/ Đọc Kinh Thánh như sách khoa học về việc tạo dựng vạn vật
Trong quá khứ cũng như trong hiện tại, người Kitô hữu Việt Nam sống trong bầu khí của học đường xã hội chủ nghĩa theo tư tưởng Mác xít vô thần, nên có không ít người khi học về thuyết tiến hóa, với những “hướng dẫn cực đoan”, để rồi “hiểu” sai về Kinh thánh. Có hai thái độ sai lầm khi tiếp nhận Lời Chúa trong môi trường giáo dục này. Một đàng, nhiều người muốn tìm thấy chìa khóa giải thích hết mọi vấn đề của cuộc sống trong Kinh thánh: gặp chuyện gì khó khăn, cứ giở Kinh thánh ra là sẽ tìm thấy câu giải đáp! Họ thật sự thất vọng, vì sứ điệp Lời Chúa “nhằm đáp lại những khao khát thâm sâu nhất của con người muốn hiểu biết chân lý, muốn biết đâu là hạnh phúc thật”[8], chứ không trả lời những đòi hỏi theo lối “bói Kiều” như thế. Đàng khác, một số người bị chao đảo hoặc mất đức tin vì Kinh Thánh hoàn toàn không đúng với những gì khoa học thực nghiệm ngày nay đã chứng minh được. Họ đâu biết rằng, Kinh Thánh không phải là sách trình bày một cách cụ thể và chi tiết về nguồn gốc vũ trụ vạn vật theo ngôn ngữ của nhà toán học hay vật lý học, nhưng chỉ là thuật lại các biến cố mang ý nghĩa dạy đức tin.
Quả vậy, một khi đã tin thì việc thuật lại các biến cố sẽ có một ý nghĩa đặc biệt với con người hôm nay. Chúng ta đọc Kinh Thánh trong niềm tin là chúng ta khám phá lịch sử ơn cứu độ của Thiên Chúa qua từng biến cố được viết lại. Chẳng hạn khi trình thuật về công cuộc sáng tạo, thì “rõ ràng không là một phóng sự trực tiếp, cũng không phải là bài học dạy về lịch sử hay địa lý, nhưng chỉ là suy tư của các bậc hiền nhân Do thái về các vấn đề lớn của loài người”[9]. Như thế, điều chủ yếu khi đọc Kinh Thánh là ý nghĩa tôn giáo mà dân Israel cảm thấy trong lịch sử dân tộc của họ. Vậy Thánh Kinh có thực không? Câu trả lời là có thực, nhưng thể văn hay cách thuật lại biến cố không đúng, không hợp tâm lý của con người thời nay, vì Kinh Thánh đã được viết ra từ nhiều ngàn năm trước, và ở nơi một dân tộc cụ thể. Kinh thánh dạy đức tin, và nơi đó, người tín hữu đọc được bao điều kỳ diệu Chúa đã làm cho con người, cụ thể qua một dân tộc, qua các tổ phụ và các ngôn sứ. Nhưng hơn thế nữa, đọc “Kinh Thánh phải giúp ta đọc lại đời sống mình với con mắt của người Kitô hữu. Và như vậy, chúng ta thấy Thiên Chúa vẫn nói với con người hôm nay như đã từng phán với các tiên tri, cũng như Ngài luôn hành động, và đời ta sẽ bừng sáng lên những điều kỳ diệu”[10]
Tóm lại, nếu ai nghĩ rằng Kinh Thánh là sách dạy cho biết về quá trình tạo thành vũ trụ vạn vật là người ấy đang “lấn sân” qua lãnh vực khoa học, và họ sẽ phải thất vọng. Nhưng nếu bằng đức tin, chúng ta sẽ đọc được ơn cứu độ của Thiên Chúa qua dòng lịch sử, và ta càng thêm yêu mến Kinh Thánh hơn.
2- TRÌNH BÀY LỜI CHÚA CHO NGƯỜI CÔNG GIÁO VIỆT NAM HÔM NAY
Sứ điệp Lời Chúa mãi mãi vẫn thế, nhưng cách trình bày thì sẽ thay đổi tùy vào thời đại và tùy vào các nền văn hóa khác nhau. Vậy trong bối cảnh Việt Nam hiện nay, Lời Chúa sẽ được trình bày như thế nào? Dưới đây chỉ là một vài suy nghĩ cá nhân xin được nêu lên, mong được đóng góp vào một “rừng cách thức” trình bày Lời Chúa của các vị tiền bối trước đây.
a/ Lời Chúa – Lời ngỏ cùng con người
Trong cuộc sống, ta được đón nhận lời ngỏ từ người khác thật nhiều: giới thiệu một quyển sách, tác giả cũng ngỏ ý cùng đôc giả; bắt đầu một buổi tiệc, chủ nhà cũng ngỏ lời cùng khách tham dự… Khi ngỏ lời, chủ nhân mong muốn người khác đón nhận những gì mình sắp trình bày. Và khi được ngỏ, thái độ đáp trả của người đón nhận khởi đi từ sự tự nguyện, không ép buộc. Với người trẻ, lời ngỏ để khởi đầu cho một mối tình thì thật đẹp, và được chấp nhận thì hạnh phúc biết bao.
Đón nhận Lời Chúa như một lời ngỏ, chắc chắn ta sẽ không cảm thấy bị “bó buộc” như một thứ “luật lệ”. Bởi, Lời Chúa là lời của Đấng “đã ngỏ với loài người như với bạn hữu và liên lạc với họ để mời gọi họ và chấp nhận cho họ đi vào cuộc sống của chính Ngài”[11]. Thân tình hơn nữa, ta có thể nói, Lời Chúa là lời của Cha trên trời ưu ái dành cho con cái mình. Cha ngỏ lời và mong mỗi người con đáp trả trong từng hoàn cảnh cụ thể của cuộc đời. Cha trên trời muốn để cho con cái đón nhận Lời với sự tự do, vì “sự đáp lời của con người đối với Thiên Chúa phải có tính tự nguyện, bởi vậy không ai bị cưỡng bách lãnh nhận đức tin trái ý mình”[12]. Thật thế, Lời Chúa không ràng buộc con người, nhưng là lối mở để con người bước gần đến cùng Thiên Chúa. Nói khác đi, bằng cách nào đó phải làm cho “lối vào Kinh Thánh trở nên rộng mở cho các Kitô hữu”[13], để họ vui đón nhận Lời Kinh Thánh ấy. 
Ngày nay, Lời ngỏ của Cha trên trời vẫn còn đó. Với người đón nhận Lời Chúa, chúng ta đã đón nhận Lời ngỏ của Chúa như thế nào? Chúng ta có thiết tha với Lời ngỏ ấy không? Làm thế nào để Lời ngỏ của Chúa trở nên lời tình yêu trong cuộc sống? Với người trình bày Lời, chúng ta đã giới thiệu cho người tín hữu nhận ra sứ điệp Lời Chúa như một lời ngỏ, để mỗi người tự mở lòng ra đón nhận và đáp trả lại không?
b/ Lời Chúa – Lời tình yêu trao ban
Lời tình yêu đích thực phải là lời trao ban chứ không chiếm hữu. Thiên Chúa đã bộc lộ điều đó khi “Thiên Chúa yêu thế gian đến nỗi đã ban Con Một, để ai tin vào Con của Người thì khỏi phải chết, nhưng được sự sống muôn đời”[14]. Đức Giêsu chính là Lời Tình Yêu đích thực được trao ban cho con người. Ngài yêu thương con người bằng tình bạn hữu và “… đã hy sinh tính mạng vì bạn hữu của mình”[15]. Đón nhận Lời Tình Yêu, mỗi người cũng được mời gọi dám sống hết mình cho Thiên Chúa và tha nhân.
Nói về Lời Tình Yêu, Thánh Gioan tông đồ khẳng định : “Tình yêu cốt ở điều này : không phải chúng ta đã yêu mến Thiên Chúa, nhưng chính Thiên Chúa đã yêu thương chúng ta, và đã cử Con của Người đến hy sinh làm của lễ đền tội cho chúng ta”[16]. Không phải Lời Tình Yêu đã yêu thương cho đến chết là hết chuyện, mà Lời đó vẫn còn tiếp diễn và kết liên mọi người: “Không gì tách được chúng ta ra khỏi tình yêu của Thiên Chúa thể hiện nơi Đức Giêsu Kitô”[17]. Lời Tình Yêu luôn vang vọng, thúc giục chúng ta: “Anh em hãy yêu thương nhau như Thầy đã yêu thương anh em”[18]. Quả nhiên khi đối diện với tình yêu cao cả này, con người không biết phải diễn tả như thế nào, nên tác giả Thánh vịnh đã phải thốt lên: “Kỳ diệu thay tri thức siêu phàm, quá cao vời con làm sao vươn tới”[19]
Ngày nay trong đời sống người Kitô hữu, được đón nhận Lời Tình Yêu, chúng ta có dùng lời nói để khích lệ, ủi an, cảm thông, chia sẻ, vui với người vui, khóc với người khóc chưa? Với từng người, chúng ta có dám sống Lời Tình Yêu và chia sẻ Lời ấy cho người khác không? Một cách nào đó, các bạn trẻ hôm nay ngỏ lời yêu với nhau thật dễ dàng, nhưng lời tình yêu ấy có bắt nguồn từ chính Đấng là Tình Yêu hay không? Chỉ khi sống trọn vẹn với Lời Tình Yêu của Thiên Chúa, ta mới có thể kết ước và sống trung thành với Lời ấy mà thôi.
c/ Lời Chúa – Lời giao ước muôn đời
Lịch sử Kitô giáo là lịch sử của giao ước. Trong đó, Thiên Chúa luôn đi bước trước trong việc ký kết với con người. Kể từ sau biến cố sa ngã của ông bà Nguyên tổ, Thiên Chúa luôn chứng tỏ Ngài là Chủ Thể muốn hàn gắn những đổ vỡ do Nguyên tổ gây ra, nên có thể coi bản Giao ước chính là sáng kiến phát xuất từ Thiên Chúa. Sáng kiến ấy luôn thể hiện chiều kích ân sủng được ban tặng nhưng không. Qua sáng kiến ấy, Thiên Chúa mời gọi con người đến với Ngài bằng việc móc nối niềm tin của họ với Ngài. 
Ngày nay, nhân loại đang sống trong một thế giới của sự thất tín và bất trung. Hôn nhân đổ vỡ, li dị khắp nơi là một minh chứng; gian lận trong kinh tế, hàng giả, đồ giả tràn ngập là minh chứng khác. Chúng ta có vượt qua được “thảm cảnh” này chăng? Đâu là con đường để con người chọn lựa trong cuộc sống có nhiều phức tạp như hiện nay? Với người Công giáo, có cách thức nào để sống tín trung với người, với đời trong hành trình trần thế không?
Trở về với Lịch sử Cứu độ, chúng ta dễ thấy, Thiên Chúa đã nhiều lần giao ước với loài người: qua một dân tộc cụ thể và với chính mỗi người. Ngày nay, lắng nghe Lời Chúa là chúng ta đang sống lại giao ước giữa Thiên Chúa và con người. Giao ước ấy được đặt trong lòng mỗi người, thúc đẩy và mời gọi từng người hãy kiên trung với Lời Hằng Sống. Chối bỏ hoặc không đón nhận Lời Chúa là chúng ta đang tự ý huỷ bỏ giao ước với Chúa và đang xa rời tình yêu của Ngài. Lời Giao Ước được trọn vẹn khi Thiên Chúa sai chính Con mình đến trần gian. Nơi Ngôi Lời, Thiên Chúa đã thiết lập Giao Ước của Người cách vĩnh viễn. Con Thiên Chúa là Lời Giao Ước tối hậu của Chúa Cha nói với nhân loại: “Đây là Lời Giao Ước mới và vĩnh viễn, sẽ không bao giờ mai một…”[20]
Tóm lại, Thiên Chúa luôn trung tín, thực hiện lời hứa: “Ta sẽ lập với chúng một giao ước muôn đời; Ta sẽ không bỏ chúng nữa, sẽ tiếp tục theo dõi và không ngừng thi ân giáng phúc cho chúng”[21]. Chỉ có con người quên đi lời hứa ban đầu của Thiên Chúa, và phạm tội thất tín bất trung với Người. Với Lời giao ước, Thiên Chúa luôn trung tín, đã giữ lời hứa và yêu thương con người như lời Thánh vịnh: “Người là Đấng giữ lòng trung tín mãi muôn đời”[22]
TẠM KẾT
Dẫu biết rằng Lời Chúa vẫn mãi tồn tại và không thay đổi, nhưng khi Lời Chúa được gieo vào từng nền văn hóa, từng thời đại khác nhau, thì cách trình bày Lời Hằng Sống ấy phải được thích ứng trong từng hoàn cảnh cho phù hợp. Đó là cách hội nhập Tin mừng mà Giáo hội đang rất quan tâm. Với chủ đề “Lời Thiên Chúa trong đời sống và sứ mạng của Giáo hội”, Thượng Hội đồng Giám mục Thế giới lần thứ XII cũng không nằm ngoài ý hướng đó, vì “nhằm cổ võ một cách thực hành giải thích đúng đắn Kinh Thánh, bằng cách định hướng rõ ràng tiến trình cần thiết hầu làm công việc Phúc âm hóa và hội nhập văn hóa”. 
Chúng ta đã và sẽ còn cố gắng hơn nữa trong việc trình bày Lời Chúa cho con người thời đại, đặc biệt cho cộng đoàn Kitô hữu tại Việt Nam. Có thể chúng ta có nhiều cách thức giảng giải Lời Chúa trong từng môi trường cụ thể và cho từng thành phần tín hữu khác nhau. Thế nhưng, điểm mấu chốt vẫn là giúp cho mọi Kitô hữu nhận ra sứ điệp ơn cứu độ của Thiên Chúa. Bao lâu Lời Chúa còn bị “diễn giải” theo lối nghĩ riêng của một cá nhân nào đó, thì bấy lâu Lời Chúa vẫn không được đón nhận như lời có sức biến đổi và cứu độ con người. 
Tóm lại, con người đương thời cho thấy bằng nhiều cách là họ rất cần lắng nghe Lời Chúa và nói với Ngài. Các Kitô hữu cảm thấy một khát vọng nồng nhiệt là được đón nhận Lời Thiên Chúa như nguồn mạch sự sống và ơn ban cho con người gặp Chúa. Bởi họ tin rằng, Lời Chúa là chắc chắn tối hậu, mà chính Thiên Chúa là tình yêu, muốn ban cho con người trong mọi thời đại, và làm cho họ trở nên những chứng tá cho Lời Hằng Sống ấy. Vì thế, việc còn lại là của những người có trách nhiệm giảng giải và trình bày Lời Chúa (Giáo sĩ, tu sĩ, giáo lý viên). Lời Chúa có được trình bày như lời sự sống, để người tín hữu “được sống và sống dồi dào”[23] không? Đó vẫn là câu hỏi cần thiết để mọi người suy nghĩ và trả lời!
Giuse Mai Văn Điệp, O.P
(Thời sự Thần học – Tháng 9/2008)



Read more…

Tính dục trong tình yêu

“Nhờ khả năng tính dục, người nam và người nữ hiến thân cho nhau qua những hành vi dành riêng cho vợ chồng. Tính dục không phải chỉ là một cái gì thuần sinh lý mà còn liên quan đến cả thực tại thâm sâu của con người nữa. Nó được thể hiện một cách thực sự nhân bản chỉ khi nào nó là nguyên tố của một tình yêu khiến con người nam nữ hoàn toàn hiến thân cho nhau suốt đời”.[1]

Dẫn nhập
Chuyện kể rằng: có một chú bé sống cùng một vị sư phụ từ lúc mới sinh, ở trên núi xa cách với cuộc sống trần tục. Đến khi chú trở thành một vị sư trẻ ở độ tuổi thanh niên, sư phụ liền đưa chú xuống núi để thử xem đã dứt khỏi được những ước mơ trần tục hay chưa. Trên đường, hai thầy trò gặp một cô gái trẻ đang đi giặt đồ ở triền sông trở về. Sư trẻ hỏi sư phụ: “Thầy ơi, con gì đó?”. Sư phụ chợt nghĩ đến mối nguy của người nữ với đức khiết tịnh của bậc tu hành nên buột miệng trả lời: “Con ơi, cọp đấy, đừng đến gần”. Từ lần xuống núi ấy, vị sư trẻ lúc nào cũng thẫn thờ mất hồn đến mức sư phụ phải la lên: “Con làm sao mà như bị mất hồn vậy?”. Vị sư trẻ trả lời: “Thưa sư phụ, con thấy nhớ con cọp hôm nọ quá sức, chịu không được!”.
Câu chuyện trên không hẳn chỉ là khôi hài, nhưng nó diễn tả một sự thật nơi con người: bản năng tính dục có ở mỗi người; hay nói cách khác, con người luôn có một sự cuốn hút phái tính lẫn nhau; và đó chính là khởi điểm của tình yêu. Nhưng tình yêu là gì thì rất khó giải thích, chỉ biết rằng, khi quý mến ai, thì lúc gặp gặp người ấy lòng xao xuyến, và khi cách xa thì lại bồi hồi ngẩn ngơ:
“Nhớ ai ra ngẩn vào ngơ.
Nhớ ai ai nhớ, bây giờ nhớ ai” (Ca dao Việt Nam, Khuyết Danh)
.
Người ta thường gọi tâm trạng ấy là “trồng cây si”, hay nói cách khác là “đã yêu”, và cuộc đời trở nên dường như vô nghĩa nếu thiếu vắng người yêu.
Vậy, làm sao để tìm ra một định nghĩa đúng về “tình yêu”, một trong những hạn từ bị lạm dụng nhiều nhất? Người ta dùng chữ “tình yêu” để chỉ những rung động đầu đời, cũng như những cuộc tình đến trọn kiếp; tình yêu được dùng để nói đến những mối tình cao đẹp, cũng như về sự phản bội xấu xa;… đó là chưa kể đến nhiều người còn dùng “tình yêu” để chỉ sở thích: yêu hoa cỏ, vật nuôi, yêu thiên nhiên,…
Nhiều học giả, nhà tâm lý, nhà thơ, nhà văn,… đã cố gắng tìm ra một một cách hiểu nào đó, nhưng không thống nhất, bởi thế nó dẫn người ta đến những lầm lẫn về tình yêu: lầm lẫn giữa phải lòng và tình yêu, tình yêu và sự chiếm đoạt, tình yêu như cuộc trao đổi sòng phẳng,… Và đặc biệt ngày nay, nhiều bạn trẻ có sự lầm lẫn giữa tình yêu và tương giao tính dục (tình dục, quan hệ tình dục); một lầm lẫn kéo theo những hệ lụy về luân lý khá nan giải. Bởi vậy, một quan niệm đúng về tính dục và tình yêu là một điều cần thiết cho các bạn trẻ giai đoạn tiền hôn nhân.
1- Tính dục: Một bản năng gắn liền với con người
Không ít người lầm lẫn giữa “tính dục” với “tình dục”. Trong khi “tình dục” là khái niệm phản ánh quan hệ tính giao giữa nam nữ, thì “tính dục” là một khái niệm có nội hàm rộng hơn. Tính dục vừa phản ánh quan hệ tính giao giữa hai cá thể khác giới (trong đại đa số trường hợp), vừa chứa đựng những yếu tố tạo nên phần hữu hình và cả phần vô hình của một cá thể người. Tính dục cũng là một trong những thành phần làm nên những phẩm chất tâm lý đặc trưng ở một con người, thể hiện ra bằng hành vi ứng xử trong cuộc sống.
Trong phạm vi bài này, người viết xin “giới hạn tính dục” trong phạm vi là “xu hướng tình dục”, nghĩa là là sự hấp dẫn về mặt tình cảm và thể chất với một đối tượng thuộc giới nào đó (đa số là xu hướng tình dục khác giới). Tính dục được nhận biết khi biểu hiện ra “là toàn bộ những hiện tượng có thể cảm biết được khi nam nữ ước muốn vận dụng bản năng giới tính của mình, để tiếp xúc, quan hệ, gặp gỡ”.[2]
Tính dục là một nhu cầu thuộc bản năng gắn liền với con người. Đối với những người dù sống độc thân hay sống đời sống hôn nhân gia đình, thì sự đòi hỏi của tính dục là một điều gì thu hút, hấp dẫn. Đặc biệt, “tính dục đối với người đàn ông có một ảnh hưởng rất lớn trên tình cảm, hạnh phúc hôn nhân và tình cảm của họ”.[3]
Theo những kết quả khảo nghiệm của nhà nghiên cứu Terri Fisher và các cộng sự của mình tại Đại học bang Ohio, Mỹ, với phương pháp “lấy mẫu trải nghiệm”, thì: Một người đàn ông trung bình nghĩ về tình dục mười chín lần trong một ngày, phụ nữ trung bình mười lần trong một ngày.[4]
Tính dục không chỉ gắn liền với con người, mà còn ảnh hưởng nhiều đến tâm tư tình cảm và cuộc sống của con người: lắm lúc là một sự thích thú, nhưng đôi khi cũng là những nỗi phiền toái, những mối nguy. Nhà thơ Trần Tế Xương có viết:
“Một trà, một rượu, một đàn bà.
Ba cái lăng nhăng nó quấy ta.
Chừa được cái gì hay cái nấy.
Có chăng chừa rượu với chừa trà!”
.[5]
Với nhà thơ, những “thứ lăng nhăng”, thứ nào cũng khó chừa, nhưng sự cuốn hút của “đàn bà” vẫn là cái khó nhất. Thực tế chứng minh từ xa xưa nhiều bậc vĩ nhân, vua quan, tướng lĩnh, nhà chính trị,… đã thân bại danh liệt vì “thứ lăng nhăng này”. Ngay cả những vị tu hành lâu năm tưởng rằng đã “đắc đạo” nhiều khi cũng không thoát khỏi những quyến rũ của cái “thứ lăng nhăng” đó. Bởi vậy, những người chuẩn bị bước vào đời sống hôn nhân gia đình, cần có một cách hiểu đúng và ý thức trưởng thành về tính dục, và sử dụng nó một cách “đúng phạm vi” để đem lại hạnh phúc cho chính mình, cho người bạn đời, cho gia đình và xã hội.
2- Tính dục: Món quà Thiên Chúa tặng ban
Nhiều nhà khoa học đồng ý với quan điểm rằng, xu hướng tính dục đã hình thành rất sớm trong con người, ngay từ khi còn nhỏ tuổi, và những tác động qua lại phức tạp của các yếu tố sinh học, tâm lý và xã hội. Thế nhưng, tìm ra một nguồn gốc sâu xa thì thật là khó khăn. Dưới con mắt đức tin, chúng ta biết rằng, tính dục là một hồng ân, là món quà Thiên Chúa ban tặng. Đức Giáo Hoàng Benedict XVI giải thích:
“Con người một cách nào đó không trọn vẹn, nên phải đi tìm kiếm nơi người khác phần nào đó cho sự toàn vẹn của mình, nghĩa là con người chỉ trong sự hiệp thông với phái tính khác mới có thể trở nên “trọn vẹn”, đó chính là điều tìm thấy trong Kinh Thánh”.[6]
Bởi vậy, “con người ở một mình không tốt. Ta sẽ làm một trợ tá tương xứng với nó” (St 2,18). Thế nên, Thiên Chúa đã sáng tạo ra người đàn bà và dẫn đến với người đàn ông để “người đàn ông sẽ lìa cha mẹ mình mà gắn bó với vợ mình, và cả hai thành một xương một thịt” (St 2, 24). Như vậy, ngay từ thuở ban đầu, con người được tạo dựng để yêu nhau và để rồi tiến tới mối liên kết mật thiết trong hôn nhân. Nghĩa là người nam và người nữ được quyền yêu và được yêu, cũng như biểu lộ tình yêu ấy trong sự kết hợp thân mật của đôi bạn. Điều đó làm Thiên Chúa hài lòng, và Người thấy “mọi sự Người đã làm ra quả là rất tốt đẹp” (St 1,31).
Trong sách Giảng Viên, Thiên Chúa đã chúc lành cho vợ chồng trong việc hưởng dùng ân huệ tính dục: “Cùng với người vợ yêu thương, bạn hãy hưởng trọn cuộc đời, hết mọi ngày trong kiếp sống phù du đã được ban cho bạn dưới ánh mặt trời, vì đó là phần bạn đáng được hưởng trong cuộc đời” (Gv 9,9).
Lời ca của Vua Salomon cũng là lời thì thầm của đôi lứa yêu nhau: “Ước gì chàng hôn ta những nụ hôn chính môi miệng chàng ! Ân ái của anh còn ngọt ngào hơn rượu” (Dc 1,2). Và qua lời ngọt ngào ấy, “Chàng đã đưa tôi vào phòng tiệc, cho tôi uống rượu nồng, đã thắng tôi nhờ sức mạnh tình yêu” (Dc 2,4). Qua hành động kết giao của tính dục, người chồng và người vợ mới trở thành “một xương một thịt” cách trọn vẹn.
Hơn nữa, trong đời sống hôn nhân, tương giao tính dục lại còn là “một trách nhiệm”“Người làm chồng hãy làm tròn bổn phận đối với vợ, và vợ đối với chồng cũng vậy. Vợ không có quyền trên thân xác mình, nhưng là chồng; cũng vậy, chồng không có quyền trên thân xác mình, nhưng là vợ. Vợ chồng đừng từ chối nhau, trừ phi hai người đồng ý sống như vậy trong một thời gian, để chuyên lo cầu nguyện; rồi hai người lại ăn ở với nhau, kẻo vì hai người không tiết dục nổi mà Xatan lợi dụng để cám dỗ” (1Cr 7,3-5).
3- Nhầm lẫn giữa tình yêu và tương giao tính dục: Mối lo của xã hội
Ngày nay, do ảnh hưởng của sách báo, phim ảnh, mạng lưới công nghệ thông tin (Website, The Social network, Movie,…) và nền văn hóa ngoại lai cổ xúy cho một thứ tình yêu cuồng vội, lãng mạn, nặng tính xác thịt, người trẻ có nguy cơ “đồng hóa tình yêu với tương giao tính dục”“tình yêu đồng nghĩa với tình dục”.
Người ta ít còn cảm thấy ngạc nhiên khi thấy những cô cậu học trò đang tuổi cắp sách đến trường rủ nhau vào nhà nghỉ để “thể hiện tình yêu” của mình cho nhau. Có em còn lý luận rằng, “không đi nhà nghỉ với nhau thì chứng tỏ chưa phải yêu nhau”. Do vậy, chẳng hiếm những bạn trẻ mới khoảng chừng mười tám đôi mươi mà đã có một “kinh nghiệm dày dạn về Sex”. Điều đáng lo hơn nữa là những hiện tượng này không phải diễn ra đơn lẻ, hiếm hoi, mà ngày càng phổ biến, đến mức báo chí phải gọi là “trào lưu tình dục thoáng”. Đặc biệt ở lứa tuổi sinh viên, công nhân, nhân viên, việc quan hệ tình dục trước hôn nhân lại càng phổ biến hơn.
Trong những năm gần đây, ở các khu Công nghiệp, nhà trọ sinh viên đã xuất hiện một lối sống mới của giới trẻ: những cặp nam nữ sống chung như vợ chồng, mà không có đăng ký kết hôn. Sau một thời gian, nếu thấy phù hợp thì họ tiến tới hôn nhân chính thức, còn nếu thấy không phù hợp, thì sẽ chia tay nhau, không cần đến pháp luật, khỏi làm phiền đến gia đình hai bên. Lối sống này được gọi là “sống thử” trước hôn nhân. Thực trạng ấy đã đang là mối lo của xã hội, không chỉ là mối ưu tư về sự phát tán “căn bệnh thế kỷ”, về nạn phá thai, nhưng đó còn là biểu hiện của sự suy thoái đạo đức xã hội, một sự “tầm thường hóa” đời sống tình dục, tầm thường hóa tình yêu vốn dĩ rất thiêng liêng cao đẹp đối với con người.
Với sự nhầm lẫn giữa tình yêu và tương giao tính dục, tình yêu bị đã giảm thiểu, giản lược, đồng hóa với một thứ tình cảm lãng mạn, hay quan hệ thuần túy xác thịt đến nỗi chi phối mọi cách ứng xử trong những quan hệ tình yêu. Nhiều đôi bạn ra tòa ly dị với lý do rất đỗi tế nhị: không hòa hợp trong việc chăn gối; đối với họ, có lẽ được thỏa mãn về tình dục thì mọi sự sẽ nên tốt đẹp. Chính những lệch lạc đó làm cho người ta dễ hụt hẫng và nghĩ rằng, hôn nhân của mình không hạnh phúc và bị cám dỗ tìm kiếm bù trừ qua việc quan hệ ngoài hôn nhân, hay mặc cảm về khả năng tình dục của mình, hoặc khinh thường, hất hủi người bạn đời của họ. Dần dần, họ đưa cuộc hôn nhân mình vào ngõ cụt, thay vì nghĩ đến việc thăng hoa tình dục và quan tâm đến những chiều kích khác của đời sống hôn nhân.
Nhiều người tưởng rằng, sự khác nhau giữa tương giao tính dục và tình yêu là vấn đề thuần lý trí, nhưng không, ta có thể tìm thấy một quan niệm đúng đắn nơi Kinh Thánh.[7] Trước hết, Kinh Thánh cho ta biết, “Thiên Chúa là tình yêu” (Ga 4,16), nhưng Người không có phái tính, không phải là một nam thần hay một nữ thần như trong thần thoại Hy Lạp. Như thế có thể nói, tình yêu là một thực tại thần linh trong khi phái tính; tính dục là một thực tại hoàn toàn có tính nhân loại. Tình yêu thì bất diệt, nhưng tính dục rồi sẽ qua đi cùng với thân xác.
Thiên Chúa không hiện hữu trong một ngôi vị đơn độc, Người hiện hữu với Ba Ngôi Vị trong một tình yêu tương hỗ. “Thiên Chúa tạo dựng con người theo hình ảnh Thiên Chúa” (St 1,26). Do vậy, con người không thể sống đơn độc, nhưng luôn có khuynh hướng sống cuộc sống xã hội, quy tụ thành gia đình, đoàn thể, xã hội. Adam và Eva đều là hình ảnh của Thiên Chúa, nhưng mỗi cá nhân không phải là hình ảnh trọn vẹn. Bởi thế, khi hai người được liên kết với nhau để tạo nên một đôi lứa yêu thương nhau, họ trở thành hình ảnh trọn vẹn của Thiên Chúa. Mặc dù tình yêu và tính dục dẫu là hai thực thể khác nhau, nhưng không bao giờ tách biệt nhau. Tình yêu và tính dục phải luôn đi đôi với nhau: tính dục là phương tiện, là ngôn ngữ để diễn đạt tình yêu. Người nam, người nữ không thể có tương giao tính dục với nhau mà không có tình yêu; nhưng thú vật thì lại khác, chẳng cần đến tình yêu. Do vậy, khi con người “quan hệ” với nhau mà không có tình yêu, tức là tự hạ mình xuống một đẳng cấp thấp hơn. Nơi các loài thú vật, dục tính nhằm để sinh sản và có tính tự động khó cưỡng; thế nhưng nơi loài người, Thiên Chúa đã phú ban cho con người tự do và ý chí. Bởi vậy, tương giao tính dục nơi con người có thể là nơi chốn của một gặp gỡ sung mãn, của trao ban và đón nhận lẫn nhau, nhưng cũng có thể là sào huyệt của sa đọa và trụy lạc.
Như vậy, người ta không thể phỉ báng tính dục, cũng không thể phủ nhận tầm quan trọng của tương giao tính dục trong đời sống hôn nhân. Trong tình yêu thường có yếu tố dục tính và trong tình yêu hôn nhân luôn bao hàm tình dục; thế nhưng, tình dục không đồng nghĩa với tình yêu. Trong tình nghĩa vợ chồng, sự “kết hợp” giữa đôi bạn không chỉ ở phương diện thể xác, mà còn bao gồm nhiều khía cạnh khác của đời sống, với sự liên kết với nhau trong tư tưởng, hành động, tâm hồn,…
Phải chân nhận rằng, tính dục tự bản chất không bao giờ thỏa mãn được. Sau đỉnh cao của sự “phối hợp” nên một, sau sự hiệp thông trọn vẹn, mỗi người thuộc đôi bạn được trả về lại với sự khác biệt của mình, một cái gì đó rất riêng và cô đơn. Mặt khác, một ai đó cho dù bản lĩnh, khỏe mạnh đến đâu cũng không thể đáp ứng mọi nơi mọi lúc, không bao giờ có thể hoàn toàn thỏa mãn ham muốn tình dục cho bạn tình của mình được, vì khả năng của con người thì hữu hạn nhưng ham muốn dường như lại vô hạn. Ngoài ra, con người không chỉ có nhu cầu bản năng ấy để thỏa mãn vì còn có nhu cầu khác như: tinh thần, tâm linh,…
4- Trưởng thành trong tình yêu: Hãy làm chủ bản năng tính dục để sống thanh khiết
Tình yêu con người được dệt nên bởi nhiều yếu tố như: tính dục, nhan sắc, tài năng và những yếu tố khác. Dầu vậy, tình yêu không có nghĩa lúc nào cũng đi kèm với tương giao tính dục, nhưng tùy theo giai đoạn. Mặt khác, tình dục là một cám dỗ rất lớn đối với những người yêu nhau. Nó là một vấn đề thuộc bản năng con người, nó luôn thúc bách, lôi cuốn con người ta phải đáp ứng.
Tờ “Campus Life”, một tờ báo Kitô giáo dành cho các bạn trẻ Hoa Kỳ có đăng tải ở mục “Tình yêu, tính dục và nhân vị toàn diện” một thắc mắc của một bạn trẻ đã đính hôn với người yêu. Bạn trẻ đó đặt vấn đề: “Tại sao phải kiềm hãm tương giao tính dục trong khi hai người yêu nhau, có gì xấu đâu vì đã đính hôn rồi mà?”.
Ông Tim Stafford, người giữ mục “Gỡ rối tơ lòng” trong tờ Campus Life, đã trả lời bức thư của bạn trẻ ấy bằng ba lý do sau:[8]
Thứ nhất, chỉ khoảng 50% số người kết hôn với người đã đính hôn trước đó, nghĩa là đính hôn chưa chắc chắn sẽ dẫn đến hôn nhân.
– Thứ hai, quan hệ tình dục không nhất thiết phải thành công ngay, kể cả khi đã kết hôn, nên có nhiều trường hợp, hai người phải kiên nhẫn trong nhiều năm mới đạt được sự hòa hợp trong việc chăn gối. Bởi vậy, việc “sống thử” xem có hợp sinh lý không thì hoàn toàn sai lầm.
– Cuối cùng, sự chờ đợi như vậy giúp đào sâu thêm mối tương giao và tình yêu. Quan hệ tình dục là một cách thức biểu lộ tình yêu, nhưng đó không phải là cách duy nhất, còn những phương thức khác nữa. Việc tập chờ đợi trong kiên nhẫn sẽ giúp đôi bạn tự tiết chế trong đời sống lứa đôi sau này.
Linh mục Alain Quilici, OP., đã ví giai đoạn yêu nhau trước hôn nhân như là “thời gian sa mạc, ở đó, người ta kinh nghiệm cái đói, cái khát”.[9] Các ẩn sĩ trong sa mạc là những người có kinh nghiệm “đói, khát” rõ nét, thể hiện qua các bút tích còn lưu lại. Trong Kinh Thánh, chúng ta không thấy Đức Giêsu có bị cám dỗ về mặt tính dục hay không, nhưng một điều ta biết là Người đánh giá cao nhân đức khiết tịnh, bởi vì chính Người đã được sinh ra bởi một người Mẹ đồng trinh, và Người được nuôi dưỡng bởi người cha nuôi thanh sạch. Có rất nhiều kẻ thù địch, căm ghét và vu cáo cho Đức Giêsu về những tội tày trời, nhưng không bao giờ họ dám tấn công Người trong lãnh vực của đức thanh khiết. Suốt cuộc đời, Người luôn qui hướng về Thiên Chúa Cha trên trời và thi hành chương trình cứu độ. Tuy thế, một cách nào đó, Đức Giêsu cũng đã từng trải qua kinh nghiệm sa mạc. Người bị cám dỗ bất tuân phục Thánh ý Chúa Cha để thỏa mãn nhu cầu ăn, một nhu cầu còn cấp thiết hơn nhu cầu của tính dục: “Ngài thấy đói” (Lc 4,2). Tuy thế, Người đã vượt qua cám dỗ ấy, để có thể nói: “Lương thực của Thầy là thi hành ý muốn của Đấng đã sai Thầy, và hoàn tất công trình của Người” (Ga 4,34). Gương sáng của Đức Giêsu mời gọi các bạn trẻ sống theo Thánh ý Thiên Chúa, đó là giữ gìn sự trong trắng cho nhau khi chưa chính thức bước vào Giao ước hôn nhân.
5- Hướng tới một tình yêu đích thực
Tình yêu đích thực chỉ có nơi con người, vì chỉ con người mới có lý trí, ý chí và sự tự do. Tình yêu lớn hơn nhiều so với lạc thú mà tình dục mang lại. Tình yêu cũng không phải là cảm xúc nhất thời theo kiểu “tiếng sét ái tình”, nhưng là một tình yêu dâng hiến và luôn phải có trách nhiệm đi kèm, phải hy sinh cho nhau, phải thánh thiện theo đúng nghĩa của tình yêu Thiên Chúa. Trong “hôn nhân bền chặt” luôn luôn có “tình yêu đích thực”, và “trong tình yêu đích thực” thì “không có chỗ đứng cho sự giả dối hay sự vị kỷ cá vị” (x. Rm 12,9), và trên hết, “tình yêu đích thực” chỉ có được khi xây dựng trên nền tảng “đức mến đích thực”“Đức mến thì nhẫn nhục, hiền hậu, không ghen tương, không vênh vang, không tự đắc, không làm điều bất chính, không tìm tư lợi, không nóng giận, không nuôi hận thù, không mừng khi thấy sự gian ác, nhưng vui khi thấy điều chân thật. Đức mến tha thứ tất cả, tin tưởng tất cả, hy vọng tất cả, chịu đựng tất cả. Đức mến không bao giờ mất được” (1Cr 13,4-8a).[10]
Một cách cụ thể và dễ hiểu hơn, Đức Giáo Hoàng Benedict XVI phân chia tình yêu thành hai dạng thức: [11]
– Thứ nhất là “tình yêu vị kỷ” (Eros), nghĩa là chỉ biết yêu chính mình, sử dụng người khác như một phương tiện, đồ vật chiếm hữu, để nhằm thỏa mãn sự thôi thúc của bản năng tính dục hoặc một mục đích vị lợi nào đó; nhưng khi thỏa mãn nhu cầu đòi hỏi bản thân vị kỷ xong, hoặc như không đáp ứng được những đòi hỏi vị kỷ từ bản thân theo như ý muốn thì chia tay, loại bỏ.
– Thứ hai là “tình yêu vị tha”, “hy hiến” (Agape), nghĩa là yêu người khác như chính bản chất vốn có của họ, sẵn sàng hy sinh tất cả để mang lại hạnh phúc cho người yêu.
Các bạn trẻ Kitô hữu luôn được Giáo Hội mời gọi yêu theo khuôn mẫu Agape, yêu như Thiên Chúa yêu; một tình yêu được thể hiện rõ nét qua mầu nhiệm Nhập Thể và mầu nhiệm hy hiến trên Thập giá của Đức Giêsu; một tình yêu mẫu mực dấn thân trọn vẹn cho người mình yêu. Thánh Phaolô đã diễn tả cách tuyệt hảo về tình yêu mà Chúa Giêsu Kitô dành cho con người: “Đức Giêsu Kitô vốn dĩ là Thiên Chúa, mà không nghĩ phải nhất quyết duy trì địa vị ngang hàng với Thiên Chúa, nhưng đã hoàn toàn trút bỏ vinh quang, mặc lấy thân nô lệ, trở nên giống phàm nhân, sống như người trần thế” (Pl 2,6-7).
Một vị Thiên Chúa đã tự nguyện hủy mình chấp nhận trở thành một tôi tớ vì tình yêu với con người. Tình yêu ấy là mẫu mực cho một tình yêu đích thực, một tình yêu sẵn sàng chịu thiệt về phần mình để mang lại cho người mình yêu những gì tốt đẹp nhất.
Đỉnh cao của “tình yêu đích thực và chân thành” chính là ở chỗ dám dâng hiến chính mạng sống của mình vì người mình yêu. Đức Giêsu đã đến chia sẻ với con người tất cả, từ nỗi đớn đau bị tra tấn dã man đến việc phải trải nghiệm một cái chết kinh hoàng và nhục nhã, trong tình trạng thất vọng và bị bỏ rơi trên Thập giá. Bởi thế, không có gì đẹp hơn Tình yêu trên Thập giá của Đức Giêsu Kitô, một mẫu mực cho tất cả tình yêu: Tình yêu được biểu đạt trong hành vi trao tặng, không chỉ là những vật chất bên ngoài, nhưng còn trong việc ban tặng chính mạng sống, là cái quý nhất của mỗi con người.
Kết luận
Tính dục là một năng lực sáng tạo rất kỳ diệu nơi con người, nhưng tính dục cũng là một điều đáng sợ do sức mạnh tiềm tàng của nó. Bản năng tính dục thúc đẩy con người tìm cách duy trì nòi giống như bản năng tự bảo tồn đã thúc đẩy con người duy trì sự sống của mình bằng cách ăn uống. Thiên Chúa đã cho khoái lạc đi kèm với việc thoả mãn các bản năng ấy, nhưng lạc thú không phải là mục tiêu và cứu cánh của việc thể hiện các bản năng. Một khi tách rời tương giao tính dục ra khỏi tình yêu, con người sẽ vấp phải sai lầm và phải đối diện với sự dữ. Nếu con người biết đón nhận tính dục như món quà cao quý mà Thiên Chúa tặng và sử dụng tính dục một cách hợp lý, chính đáng, trong phạm vi cho phép, thì nó sẽ đem lại niềm vui, hoan lạc và hạnh phúc cho họ. Ngược lại, nếu con người sử dụng tính dục chỉ để thỏa mãn những đam mê dục vọng của mình, thì nó sẽ gây ra cho họ những hậu quả khó lường.
Đã có thời ở Phương Tây, do ảnh hưởng của triết học Hy Lạp (cụ thể là Platon), người ta tách biệt thể xác với linh hồn và xem nhẹ thể xác. Do vậy, nền Đạo Đức Kitô giáo một thời đã từng gạt vấn đề tính dục sang một bên, coi nó như một phương tiện bất đắc dĩ để bảo tồn nòi giống hoặc để xoa dịu cơn khao khát của tính dục mà thôi. Ở Việt Nam, cũng một thời ảnh hưởng của Đạo Nho, nên những chuyện sinh lý nam nữ, vợ chồng được coi là chuyện tục tĩu, chẳng nên nói tới. Bởi vậy, mới có câu thơ:
“Đàn ông chớ kể Phan Trần,
Đàn bà chớ kể Thúy Vân, Thúy Kiều”
.
Ngày nay, vấn đề xem ra có vẻ ngược lại. Theo ngôn ngữ của báo chí, “cuộc cách mạng tình dục”, với sự trợ giúp của báo chí, phim ảnh, Internet, đã và đang cổ võ cho một lối sống buông thả, “tình dục thoáng”, dẫn đến quan niệm sai lạc: đánh đồng hoặc tách biệt tương giao tính dục với tình yêu, dẫn đến những hệ lụy luân lý nan giải.
Sau Công Đồng Vatican II, Giáo Hội đã có những quan niệm tích cực và khôn ngoan, “trình bày giới tính như một giá trị”,[12] là “ân sủng lớn lao của Đấng Tạo Hóa”“là sự phong phú của toàn bộ nhân vị”.[13]
Giáo Lý Hội Thánh Công Giáo dạy rằng: “Nhờ khả năng tính dục, người nam và người nữ hiến thân cho nhau qua những hành vi dành riêng cho vợ chồng. Tính dục không phải chỉ là một cái gì thuần sinh lý mà còn liên quan đến cả thực tại thâm sâu của con người nữa. Nó được thể hiện một cách thực sự nhân bản chỉ khi nào nó là nguyên tố của một tình yêu khiến con người nam nữ hoàn toàn hiến thân cho nhau suốt đời”.[14]
Trúc Bạch, OP.(Trung Tâm Học Vấn Đa Minh
Read more…

Contact us