Nghề Đảng!

Nhân chuyện có ông phó ban nội chính tiết lộ rằng nhờ làm thêm nghề xe ôm mà ông có tiền để xây biệt thự hoành tráng, làng phây rộ lên các biếm luận nghề nào hot nhất, mau làm giàu nhất.



Các nghề được nhắc đến nhiều nhất là: đón củi, hoạn lợn, y tá miệt vườn, lái xe, tạp vụ, bán vé số, xe ôm...đó là những nghề liên quan đến xuất thân của một số lãnh đạo cao cấp của đảng hoặc liên quan đến nhiều vụ xì căng đan xấu xa gần đây.

Vì chuyện xấu xa mà các nghề trên bị mang ra chế diễu hơi bị oan. Nghề nào cũng cao quý, hơn nữa ai xuất thân từ nghề lao động chân tay mà vươn lên thành đạt lại càng phải quý trọng như lái xe lên viện phó khoa học, tạp vụ lên trưởng phòng, hoạn lợn, đón củi, y tá lên tổng bí thư, thủ tướng ..vv...vv..

Thật ra mọi người đang chế riễu cái sự vươn lên không minh bạch và thiếu thực chất đó thôi. Mọi người đang chế diễu loanh quanh các nghề kể trên chẳng qua muốn né tránh điều kỵ húy, không dám đi thẳng vào bản chất của sự việc.

Nói thẳng ra, tất cả những người xuất thân từ các nghề kể trên nếu không có đảng thì cũng khó mà thăng tiến hoặc giàu có nhanh như vậy. Đảng đẻ ra cơ chế thăng tiến kiểu đảng nên ai hành nghề đảng đều có sự thuận lợi tuyệt đối so với người không có nghề đảng.

Tóm lại, nghề đảng là nghề hót nhất, thăng tiến nhanh nhất, làm giàu mau nhất trong thời đại ngày nay, còn gọi là thời đại Hồ Chí Minh.

Thử hỏi đến 90 triệu lao động cùng với toàn bộ nguồn tài nguyên của đất nước đặt hết dưới quyền lãnh đạo của một nhóm chưa đến 4 triệu người hành nghề đảng thì làm sao nghề đảng không là nghề ngon nhất thời đại nay?

Chỉ cần cho bạn lãnh đạo toàn diện 5 lao động là bạn có thể ngồi mát ăn bát vàng rồi, huống chi 4 triệu đảng viên lãnh đạo 90 triệu lao động lại còn làm chủ toàn bộ tài nguyên.

Bạn có thể làm bất cứ công việc gì miễn kèm thêm nghề đảng là bạn có cơ hội thăng tiến như vũ bão.

Tôi viết stt nầy nhằm mục đích để mọi người nếu muốn trút căm giận hoặc sự phỉ báng thì trút vào cho đúng chỗ: nghề đảng, còn các nghề lao động chân tay khác đều đáng được trân trọng.

Huỳnh Ngọc Chênh

(Blog Huỳnh Ngọc Chênh)
Read more…

CHỦ TỊCH TỈNH THANH HÓA GIÀU CỠ NÀO?

Thành Phạm 

Chủ tịch tỉnh Thanh Hóa Nguyễn Đình Xứng, ảnh sưu tầm trên mạng.

Trân trọng kính mời bạn đọc ghé thăm tài sản (biệt thự, khu đất, xe hơi hạng sang…) của Ông Nguyễn Đình Xứng, hiện đang giữ chức vụ Phó Bí thư kiêm Chủ tịch ủy ban nhân dân tỉnh Thanh Hóa.
Hiện ông Nguyễn Đình Xứng đang sở hữu “dự án gia đình” trên lô đất khoảng 1000 m2 nằm trong Khu đô thị Đông Phương (TP. Thanh hóa), trị giá khoảng 50 tỷ đồng, bên trong sở hữu nội thất khủng nhập từ châu Âu về, kèm theo đó là chiếc siêu xe Range Rover trị giá 12 tỷ đồng. Đây là một trong những dự án mà ông đã phụ trách kinh tế tài chính của tỉnh – chính vì điều này mà ông đã dễ dàng tham nhũng tài sản của nhà nước mà nhiều người không hay biết. Riêng những nội thất bên trong ông trang trí cho căn biệt thự này với những loại gỗ quý hiếm và thuê hẳn phân xưởng sản xuất tại nhà theo yều cầu ông đề ra.
Ngoài căn biệt thự trên, ông Xứng xây dựng ngôi Nhà thờ họ to nhất nhì huyện Triệu Sơn, tỉnh Thanh Hóa (quê hương của ông). Đáng chú ý, Xứng còn có Căn biệt thự cao cấp khu Phú Mỹ Hưng, Quận 7, TP.HCM với diện tích 350m2 giá trị gần 90 tỷ đồng. Chưa kể ông Xứng còn rất nhiều khu đất nằm vị trí vàng, nhiều khu chung cư cao cấp.
Với những tài sản đã kể thì có phải do chính bàn tay của ông làm ra? Nếu thực tế đúng như vậy nhà nước ta nên khuyến khích nhân dân học hỏi cách làm giàu để nhân rộng mô hình để đưa đất nước tiến lên, còn nếu phát hiện tài sản trên có dấu hiệu tham nhũng, bất minh thì việc xử lý cần mạnh mẽ và dứt khoát để thể hiện tính răn đe của một nhà nước được gọi là pháp quyền xã hội chủ nghĩa.
Tổng bí thư Nguyễn Phú Trọng, Ủy ban kiểm tra Trung ương, Ban Nội chính Trung ương và Thanh tra Chính Phủ cần vào cuộc nhanh chóng để làm rõ những vấn đề nêu trên, đáp ứng nguyện vọng của nhân dân, có như vậy thì nhân dân mấy thoát khỏi cảnh tượng nhân dân (là chủ) ngày càng nghèo khó, quan chức (đầy tớ) ngày càng giàu lên.

Còn lại: Một số lô đất vàng ông Xứng đang sở hữu.
(Còn nữa)…
Read more…

Triết lý khổ đau

Chúa nhật lễ Lá, năm A

Triết lý khổ đau (Chúa nhật lễ Lá, năm A)
Không ai thích đau khổ, nhưng không ai lại không đau khổ, và cũng chẳng có ai tránh được đau khổ. Chúa Giêsu còn chịu đau khổ tới tột độ thì chẳng ai thoát đau khổ ở đời này. Cái gì cũng có triết lý riêng, chắc chắn đau khổ có triết lý đặc biệt mà phàm nhân không thể hiểu nổi.
Tâm lý gia Elisabeth Kübler-Ross (1926-2004, người Mỹ gốc Thụy Sĩ) nói: “Những con người đẹp nhất là những người từng bị đánh bại, từng đau khổ, từng tranh đấu, từng mất mát, và đã tìm được đường ra khỏi vực sâu. Những người này có lòng cảm kích, sự nhạy cảm và thấu hiểu đối với cuộc đời, cuộc đời đã làm họ tràn đầy sự cảm thông, sự dịu dàng và quan tâm yêu thương sâu sắc. Người đẹp không tự nhiên mà có”.
Cuộc đời cho chúng ta thấy rằng những con người đẹp nhất (đẹp đúng nghĩa chứ không là đẹp ngoại hình) là những người từng bị đánh bại, từng chịu đau khổ, từng phải tranh đấu, từng chịu mất mát, nhưng họ đã tìm được con đường ra khỏi vực sâu để thoát thân – tức là họ đã đi xuyên qua đau khổ. Những con người này có lòng cảm kích, sự nhạy bén và thấu hiểu đối với cuộc đời, chính cuộc đời đã làm cho họ tràn đầy sự cảm thông, sự dịu dàng và biết quan tâm yêu thương tha nhân một cách sâu sắc. Như vậy, “người đẹp” không thể tự nhiên mà có.
Ôi, loại triết-lý-sống luôn thâm sâu và! Và quả thật, chính nỗi đau khổ lại có sức mạnh kỳ diệu khả dĩ làm cho người ta nên khôn ngoan đích thực. Cụ Ngô Tất Tố đã đặt vấn đề: “Ai nên khôn không khốn một lần?”. Tương tự, cụ Phan Bội Châu đưa ra giả thuyết: “Ví phỏng đường đời bằng phẳng cả, anh hùng hào kiệt có hơn ai?”. Hai câu nghi vấn cũng là hai câu xác định, hai câu hỏi cũng là hai câu trả lời. Đó là dạng “nghi vấn xác định”.
Về tâm linh, Thánh Phanxicô Assisi thổ lộ: “Tôi hy vọng rất nhiều về cái hay, cái tốt. Vì vậy mà tất cả đau khổ đều là dễ thương”. Như vậy có nghĩa là cái hay và cái tốt đều xuất hiện sau đau khổ. Và thật kỳ lạ, văn thi sĩ Clive Staples Lewis (1898-1960, Anh quốc) xác định: “Thiên Chúa thầm thì với chúng ta khi chúng ta vui, nhưng Ngài nói to trong lương tâm của chúng ta khi chúng ta đau khổ”.
Sự đau khổ thật là mầu nhiệm. Thật vậy, cũng như tình yêu, có lẽ chẳng ai định nghĩa thỏa đáng về sự đau khổ, bởi vì đau khổ có nhiều dạng và nhiều mức độ. Thiết tưởng có thể đơn giản hóa để dễ hiểu theo phương trình: Đau khổ = Ưu sầu + Nước mắt. Tất nhiên phải “trừ” loại nước mắt vui mừng, dù hai loại nước mắt đều có vị mặn. Rất dễ dàng lấy vạt áo lau khô những “giọt mặn” rỉ ra từ khóe mắt, nhưng lại rất khó xóa “vết mặn” khỏi trái tim mình.
Thật vậy, sướng hay khổ còn do mỗi người có khái niệm riêng. Có những triết lý dễ hiểu, có những triết lý khó hiểu, thậm chí là không thể hiểu: Triết lý Thập Giá – tức là triết lý về sự đau khổ. Thảo nào Chúa Giêsu thường xuyên nhắc nhở người ta phải vác thập giá hằng ngày và tìm cách đi vào cửa hẹp.
Trong cuộc sống đời thường, chẳng ai ưa thích gì nỗi khổ, thế nhưng đau khổ vẫn luôn có giá trị tích cực mà chúng ta phải cố gắng hiểu suốt cả đời. Đại văn hào Victor Hugo nhận xét: “Đau khổ cũng như hoa quả. Chúa không khiến nó mọc lên trên những cành quá yếu ớt để chịu nổi nó”. Những người chịu đau khổ hẳn là những người mạnh mẽ, vì Chúa biết họ đủ sức nên mới để cho họ chịu đau khổ như vậy. Thật vậy, Elbert Hubbard giải thích: “Nếu bạn đau khổ, hãy cảm ơn trời! Vì đó là dấu hiệu chắc chắn cho thấy bạn đang sống”. Chính lúc chịu đau khổ lại là lúc người ta sống viên mãn, thật kỳ lạ vô cùng!
Triết lý đau khổ thật kỳ diệu, đúng là sự mầu nhiệm. Kinh Thánh cho biết rằng mặc dù đối mặt với các hung tin dồn dập, nhưng ông Gióp vẫn bình tĩnh. Ông trỗi dậy, xé áo mình ra, cạo đầu, sấp mình xuống đất, sụp lạy và chân thành cầu nguyện: “Thân trần truồng sinh từ lòng mẹ, con sẽ trở về đó cũng trần truồng. Đức Chúa đã ban cho, Đức Chúa lại lấy đi: xin chúc tụng danh Đức Chúa!” (G 1:21). Đặc biệt là dù đau khổ cùng cực, nhưng “ông Gióp KHÔNG hề phạm tội cũng KHÔNG buông lời trách móc phạm đến Thiên Chúa” (G 1:22). Hai cái “không” của ông Gióp trên cả tuyệt vời. Hiểu được như vậy thì cuộc đời sẽ thanh thản!
Người đời cũng có cách nói thú vị: “Thà một phút huy hoàng rồi chợt tắt, còn hơn le lói suốt trăm năm”. Có lẽ đó là cách “tự an ủi” của người đời. Nhưng chúng ta cũng có thể hiểu theo góc độ nào đó về Chúa-Giêsu-làm-người. Cuộc đời Ngài đầy đau khổ ê chề, thế nhưng Ngài vẫn có khoảnh khắc huy hoàng là được thiên hạ tung hô lúc Ngài cưỡi trên lưng lừa trên đường tiến vào Thành Giêrusalem. Và chắc chắn không ngoài Thánh Ý Chúa Cha.
Ngày Lễ Lá, Phụng vụ Lời Chúa được Giáo hội sử dụng là bài ca thứ ba trong các “Bài Ca của Người Tôi Trung”, ngắn gọn mà ý nghĩa: “Đức Chúa là Chúa Thượng đã cho tôi nói năng như một người môn đệ, để tôi biết lựa lời nâng đỡ ai rã rời kiệt sức. Sáng sáng Người đánh thức, Người đánh thức tôi để tôi lắng tai nghe như một người môn đệ. Đức Chúa là Chúa Thượng đã mở tai tôi, còn tôi, tôi không cưỡng lại, cũng chẳng tháo lui”(Is 50:4-5). Quả thật, đó là điều không dễ, nhưng vẫn giữ được lòng trung tín ngay trong lúc chịu đau khổ!
Thật là kỳ lạ, đau khổ không làm người ta yếu đuối mà lại như loại “nước tăng lực” làm tăng sức chịu đựng: “Tôi đã đưa lưng cho người ta đánh đòn, giơ má cho người ta giật râu. Tôi đã không che mặt khi bị mắng nhiếc phỉ nhổ. Có Đức Chúa là Chúa Thượng phù trợ tôi, vì thế, tôi đã không hổ thẹn, vì thế, tôi trơ mặt ra như đá. Tôi biết mình sẽ không phải thẹn thùng” (Is 50:6-7). Ôi, thật là mầu nhiệm, những người không có niềm tin Kitô giáo chắc chắn không thể hiểu được, và có thể họ sẽ cho những người chịu đau khổ là những người điên khùng.
Tác giả Thánh Vịnh than thở: “Thân sâu bọ chứ người đâu phải, con bị đời mắng chửi dể duôi, thấy con ai cũng chê cười, lắc đầu bĩu mỏ buông lời mỉa mai: ‘Nó cậy Chúa, mặc Người cứu nó! Người có thương, giải gỡ đi nào!’ ” (Tv 22:7-9). Thách thức quá lớn, khoảng cô đơn quá rộng, nỗi nhục nhã quá ê chề!
Người ta thường nói: “Phúc bất trùng lai, họa vô đơn chí”. Điều này không khác quy luật muôn thuở, giống như định mệnh vậy. Đau khổ này cứ tiếp tục chồng chất lên đau khổ khác: “Quanh con bầy chó đã bao chặt rồi. Bọn ác đó trong ngoài vây bủa, chúng đâm con thủng cả chân tay, xương con đếm được vắn dài; chúng đưa cặp mắt cứ hoài ngó xem. Áo mặc ngoài chúng đem chia chác, còn áo trong cũng bắt thăm luôn. Chúa là sức mạnh con nương, cứu mau, lạy Chúa, xin đừng đứng xa” (Tv 22:17-20). Không còn gì để mất nữa, khốn khổ tột cùng, lo sợ run cả người, nguyện cầu không ngừng, thế nhưng vẫn chẳng nghe động tĩnh gì!
Tuy nhiên, dù có thế nào thì vẫn một lòng tín thác, vẫn xưng tụng Thiên Chúa, vì đó là mục đích sống: “Con nguyện sẽ loan truyền danh Chúa cho anh em tất cả được hay, và trong đại hội dân Ngài, con xin dâng tiến một bài tán dương. Hỡi những ai kính sợ Đức Chúa, hãy ca tụng Người đi! Hỡi toàn thể giống nòi Gia-cóp, nào hãy tôn vinh Người! Dòng dõi Ít-ra-en tất cả, nào một dạ khiếp oai!” (Tv 22:23-24).
Cầu nguyện là lương thực nuôi dưỡng đời sống tâm linh. Cầu nguyện mà không nghe động tĩnh gì, đó là dấu chỉ chắc chắn rằng Chúa đang xót thương. Lại thêm một điều kỳ diệu. Muốn hiểu được triết lý này, đòi hỏi phải có niềm tin Kitô giáo. Với người ngoài Kitô giáo hoặc vô thần, họ cho đó là “bùa mê, thuốc lú”, ai tin như vậy đều bị họ coi là dại dột, là dốt nát, là ngu xuẩn hoặc điên rồ.
Thánh Phaolô phân tích: “Đức Giêsu Kitô vốn dĩ là Thiên Chúa mà không nghĩ phải nhất quyết duy trì địa vị ngang hàng với Thiên Chúa, nhưng đã hoàn toàn trút bỏ vinh quang mặc lấy thân nô lệ, trở nên giống phàm nhân sống như người trần thế” (Pl 2:6-7). Chúa Giêsu không chỉ tự nguyện như vậy, mà còn hơn thế nữa:“Người lại còn hạ mình, vâng lời cho đến nỗi bằng lòng chịu chết, chết trên cây thập tự” (Pl 2:8). Thật đúng là mầu nhiệm, do đó mà khó hiểu quá. Tuy nhiên, chỉ là “khó hiểu” chứ không phải là “không thể hiểu”.
Trong cuộc sống đời thường, người ta cũng nhận thấy rằng tình yêu nào cũng cần có “chất” đau khổ, có đau khổ mới chứng tỏ tình yêu chân chính. Như một lời xác định, đại văn hào Victor Hugo nói: “Ai khổ vì yêu, hãy yêu hơn nữa; chết vì yêu là sống trong tình yêu”. Chết mà là sống. Lạ thật, người đời mà còn nhận định được như vậy đấy!
Chắc chắn đau khổ có giá trị nhất định và rất độc đáo. Gian nan là nhịp cầu dẫn tới thành công, đau khổ là nhịp cầu dẫn tới vinh quang. Cũng vậy, sự chết là con đường dẫn tới sự sống, là cửa ngõ bước vào cõi trường sinh:“Chính lúc chết đi là khi vui sống muôn đời” (Thánh Phanxicô Assisi). Còn Thánh Phaolô kết luận: “Chính vì thế, Thiên Chúa đã siêu tôn Người và tặng ban danh hiệu trổi vượt trên muôn ngàn danh hiệu. Như vậy, khi vừa nghe danh thánh Giêsu, cả trên trời dưới đất và trong nơi âm phủ, muôn vật phải bái quỳ; và để tôn vinh Thiên Chúa Cha, mọi loài phải mở miệng tuyên xưng rằng: “Đức Giêsu Kitô là Chúa” (Pl 2:9-11).
Khi Chúa Giêsu hiển hách vào Thành Giêrusalem là lúc Ngài đi vào cõi đau khổ, và từ “biên giới” đầy gian khổ ở Vườn Dầu lại tiếp tục dẫn tới “cửa ải” sự chết nơi đỉnh đồi Can-vê. Nhưng từ nơi Can-vê “chết chóc” ấy lại dẫn tới cửa sự sống là Nước Trời. Một bản đồ lòng vòng như mê cung nhưng lại thú vị và hấp dẫn, có bao người khao khát sử dụng loại bản đồ này, và đã có nhiều người đạt được mục đích sống đó: Các thánh nhân, đặc biệt là các vị tử đạo.
Đời là thế. Chuyện gì đến sẽ đến – dù vui hay buồn, dù tốt hay xấu, dù to hay nhỏ. Đó là điều tất yếu của cuộc sống. Bài thương khó hôm nay là một bộ phim buồn khiến lòng người trĩu nặng…
Giu-đa Ít-ca-ri-ốt, một người trong Nhóm Mười Hai, đành lòng bán Thầy mình để lấy một số tiền. Từ lúc đó, gã cố tìm dịp thuận tiện để nộp Thầy mình. Vật chất và tiền bạc có ma lực cực mạnh khiến người ta mù quáng, không còn đủ lý trí sáng suốt để phân biệt đâu là phải hay trái. Ma lực đó rất khó cưỡng lại!
Ngày thứ nhất trong tuần bánh không men, các môn đệ đến thưa với Đức Giêsu xem Ngài muốn họ dọn Tiệc Vượt Qua ở đâu. Ngài dặn dò họ kỹ lưỡng từng chi tiết.
Chiều đến, Đức Giêsu vào bàn tiệc với mười hai môn đệ. Đang tiệc vui, bỗng dưng Ngài bảo có người sẽ nộp Ngài. Các môn đệ tá hỏa tam tinh và rầu thúi ruột, họ hỏi nhỏ nhau xem ai là thủ phạm. Chẳng ai biết. Ngài nói:“Kẻ giơ tay chấm chung một đĩa với Thầy, đó là kẻ nộp Thầy. Đã hẳn Con Người ra đi theo như lời đã chép về Người, nhưng khốn cho kẻ nào nộp Con Người: thà nó đừng sinh ra thì hơn!” (Mt 26:23-24). Giu-đa nhột gáy, nhưng vẫn giả nai: “Thầy ơi, chẳng lẽ con sao?”. Ngài xác nhận là đúng!
Cũng trong bữa ăn đó, Đức Giêsu cầm lấy bánh, dâng lời chúc tụng, rồi bẻ ra, trao cho môn đệ và nói: “Anh em cầm lấy mà ăn, đây là mình Thầy” (Mt 26:26). Rồi Người cầm lấy chén, dâng lời tạ ơn, trao cho môn đệ và nói:“Tất cả anh em hãy uống chén này, vì đây là máu Thầy, máu Giao Ước, đổ ra cho muôn người được tha tội” (Mt 26:27-28). Đây là lúc thật linh thiêng và xúc động, nhưng lại có nỗi buồn khi Ngài bảo: “Từ nay, Thầy không còn uống thứ sản phẩm này của cây nho, cho đến ngày Thầy cùng anh em uống thứ rượu mới trong Nước của Cha Thầy” (Mt 26:29).
Sau khi hát thánh vịnh xong, Thầy trò cùng ra núi Ô-liu. Bấy giờ Đức Giêsu nói với các ông về nhiều điều cần thiết, vừa cảnh báo vừa trăn trối. Nghe Thầy nói đích danh mình là sẽ chối Thầy ba lần. Ông Phêrô nói chắc:“Dầu có phải chết với Thầy, con cũng không chối Thầy” (Mt 26:35). Tất cả các môn đệ cũng đều nói như vậy. Nhưng rồi… điều gì đến vẫn cứ đến!
Vào vùng đất Ghết-sê-ma-ni, Ngài bảo mọi người ở lại, chỉ dẫn theo Phêrô và hai người con ông Dê-bê-đê đi theo. Ngài bắt đầu cảm thấy buồn rầu xao xuyến cực độ nên phải thốt lên: “Tâm hồn Thầy buồn đến chết được. Anh em ở lại đây mà canh thức với Thầy” (Mt 26:38). Ngài đi xa hơn một chút, sấp mặt xuống, cầu nguyện:“Lạy Cha, nếu có thể được, xin cho con khỏi phải uống chén này. Tuy vậy, xin đừng theo ý con, mà xin theo ý Cha” (Mt 26:39). Nhân tính thật yếu đuối, nhưng Ngài vẫn quyết tuân phục Ý Cha cho đến cùng.
Ngài trở lại chỗ ba đệ tử ruột, ôi thôi, họ lăn ra ngủ khò. Ngài nói với Phêrô: “Thế ra anh em không thể canh thức nổi với Thầy một giờ sao? Anh em hãy canh thức và cầu nguyện, để khỏi lâm vào cơn cám dỗ. Vì tinh thần thì hăng say, nhưng thể xác lại yếu hèn” (Mt 26:40-41). Phêrô còn ngái ngủ, chỉ biết gãi đầu thôi. Ngại ghê đi!
Rồi Ngài lại đi cầu nguyện lần thứ hai: “Lạy Cha, nếu con cứ phải uống chén này mà không sao tránh khỏi, thì xin vâng ý Cha” (Mt 26:42). Ngài quay lại, thấy các môn đệ vẫn đang ngon giấc, mắt họ nặng trĩu. Có lẽ họ thấm mệt vì có chút men và trời đã quá khuya. Ngài để mặc các ông ngủ mà đi cầu nguyện lần thứ ba, cũng với lời như trước. Rồi Ngài đến chỗ các môn đệ, đúng lúc kẻ nộp Ngài vừa tới!
Giu-đa tỏ ra lịch sự đến chào và hôn Thầy, nhưng là để “chỉ điểm” cho những kẻ thủ ác bắt Thầy. Phêrô nóng gáy lấy gươm chém đứt tai Man-khô, đầy tớ của thầy thượng tế. Nhưng Chúa Giêsu chữa lành cho gã và bảo Phêrô cất gươm đi. Họ ập tới bắt trói Ngài. Thấy vậy, các môn đệ tá hỏa và bỏ của chạy lấy người, có kẻ mất dép, có kẻ tuột cả áo xống mà chạy tồng ngồng đi trốn. Nói thì mạnh lắm, cuối cùng cũng chỉ “lẻo mép”. Phàm nhân yếu đuối và nhát đảm quá!
Họ bắt Đức Giêsu và điệu đến thượng tế Cai-pha. Phêrô đi theo xa xa, đến tận dinh thượng tế, rồi vào bên trong ngồi với bọn thuộc hạ, xem kết cuộc ra sao.
Họ chất vấn Đức Giêsu đủ điều, nhưng Ngài vẫn im lặng. Vì có nói với họ thì cũng như nước đổ lá môn, nói với đầu gối còn hơn. Cuối cùng, vị thượng tế nói: “Nhân danh Thiên Chúa hằng sống, tôi truyền cho ông phải nói cho chúng tôi biết: ông có phải là Đấng Kitô Con Thiên Chúa không?” (Mt 26:63). Nghe chừng đạo đức lắm vì ông ta dám “nhân danh Chúa” mà tra xét. Lúc này Đức Giêsu mới lên tiếng: “Chính ngài vừa nói. Hơn nữa, tôi nói cho các ông hay: từ nay, các ông sẽ thấy Con Người ngự bên hữu Đấng Toàn Năng và ngự giá mây trời mà đến” (Mt 26:64). Như giọt nước làm tràn ly, vị thượng tế liền xé áo mình ra và bảo Đức Giêsu nói phạm thượng, rồi ông ta hỏi mọi người nghĩ sao, họ liền đồng thanh: “Hắn đáng chết!”.
Sau đó, kẻ thì khạc nhổ vào mặt và đấm đánh Ngài, kẻ lại tát Ngài, rồi họ nguyền rủa và lăng mạ Ngài đủ thứ. Mỗi chúng ta cũng đã từng “khạc nhổ” hoặt “tát” vào tha nhận – cách này hoặc cách nọ, và đó là sỉ nhục chính Chúa Giêsu!
Tương tự, chuyện gì sẽ đến cũng lại đến. Phêrô được Thầy báo trước, nhưng cũng không thể vượt qua chính mình. Thiên hạ thấy ông nên bàn tán xì xầm, ông sợ nên không dám nhận mình là người quen với Đức Giêsu, và còn thề độc là không hề quen với người đang bị hành hạ bên trong kia. Và rồi có tiếng gà gáy, ông sực nhớ lời Đức Giêsu đã nói: “Gà chưa kịp gáy thì anh đã chối Thầy ba lần”. Ông ra ngoài, khóc lóc thảm thiết. Chắc hẳn từ đó, ông rất sợ tiếng gà gáy sáng, nhưng ông cũng phải cảm ơn tiếng gà gáy đó.
Kinh Thánh cho biết rằng vào mỗi dịp lễ lớn, tổng trấn có lệ phóng thích cho dân chúng một người tù, tuỳ ý dân. Khi ấy có một người tù khét tiếng tên là Ba-ra-ba. Người ta đồng ý thả Ba-ra-ba và cương quyết giết Đức Giêsu. Phi-la-tô thừa biết chỉ vì ghen tị mà họ nộp Ngài, thế nhưng vì địa vị chức tước mà ông làm ngơ với công lý, vợ ông bảo đừng nhúng tay vào vụ xử vụ này, ông đi rửa tay để chứng tỏ mình vô can. Nhưng đó chỉ là giả hình, hèn nhát!
Thật vậy, chính Phi-la-tô đem Đức Giêsu vào trong dinh và tập trung cả cơ đội quanh Ngài. Chúng lột áo Ngài ra, khoác cho Ngài tấm áo choàng đỏ, rồi kết một vòng gai làm vương miện đặt lên đầu Người, và trao vào tay mặt Ngài một cây sậy. Chúng quỳ gối trước mặt Người mà nhạo báng, chúng khạc nhổ vào Ngài và lấy cây sậy mà đập vào đầu Ngài. Chế giễu chán, chúng lột áo choàng ra, cho Ngài mặc áo lại như trước, rồi điệu Người đi đóng đinh vào thập giá.
Trên đường, chúng gặp một người Ky-rê-nê tên là Si-môn, chúng bắt ông vác thập giá của Ngài, vì thấy Ngài yếu sức, sợ không đến nơi hành hình. Những người nói mạnh hứa chắc đâu cả rồi? Những người tín cẩn của Đức Giêsu đâu cả rồi? Những người được Đức Giêsu chữa lành đâu cả rồi? Những người được Đức Giêsu cho ăn no nê đâu cả rồi? Sao chỉ có mình ông Si-môn ngoại giáo vác đỡ Thập Giá cho Ngài? Cuộc đời là thế thật sao?
Khi đến Gôn-gô-tha, nghĩa là Đồi Sọ, chúng cho Ngài uống rượu pha mật đắng, nhưng Ngài chỉ nếm một chút mà không chịu uống. Đóng đinh Ngài vào thập giá xong, chúng đem áo Ngài ra bắt thăm mà chia nhau, rồi họ cứ ngồi lì đó mà canh giữ Ngài. Cùng bị đóng đinh với Ngài là hai tên cướp, một tên bên phải, một tên bên trái.
Điều đáng buồn là những kẻ qua người lại đều nhục mạ và thách thức Ngài. Các thượng tế, kinh sư và kỳ mục cũng chế giễu Ngài vì họ tưởng mình đã hành động đúng và hả hê chiến thắng! Thậm chí một tên cướp cùng bị đóng đinh với Ngài cũng không tiếc lời sỉ vả và thách thức Ngài.
Bỗng dưng bóng tối bao phủ cả mặt đất từ giờ thứ sáu đến giờ thứ chín (12 giờ trưa tới 3 giờ chiều). Vào giờ thứ chín, trong nỗi cô đơn quá lớn, Đức Giêsu kêu lớn tiếng: “Ê-li, Ê-li, lê-ma xa-bác-tha-ni – lạy Thiên Chúa, lạy Thiên Chúa của con, sao Ngài bỏ rơi con?” (Mt 27:46). Người ta cứ tưởng Ngài gọi ông Ê-li-a, rồi một người trong bọn chạy đi lấy miếng bọt biển, thấm đầy giấm, buộc vào đầu cây sậy và đưa lên cho Ngài uống. Rồi Đức Giêsu lại kêu một tiếng lớn, rồi trút linh hồn!
Ngay lúc đó, bức màn trướng trong Đền Thờ xé ra làm hai từ trên xuống dưới, đất rung đá vỡ, mồ mả bật tung, xác của nhiều vị thánh đã an nghỉ được trỗi dậy. Thấy động đất và các sự lạ, viên đại đội trưởng và những người cùng ông canh giữ Đức Giêsu đều rất đỗi sợ hãi và phải thú nhận: “Quả thật ông này là Con Thiên Chúa” (Mt 27:54). Ít ra cũng phải như thế, muộn cũng còn hơn không!
Và sự thật mãi là sự thật, dù người ta cố ý bóp méo thế nào thì cũng không thể biến hóa cách nào khác. Thắng và Thua đều cùng vần T. Sự đời lạ lắm, có những khi cứ tưởng Thắng mà hóa Thua, nhưng có khi thấy Thua mà lại là Thắng. Và chuyện gì sẽ đến cũng lại đến! Chưa đánh được người thì mặt đỏ như vang, đánh được người rồi thì mặt vàng như nghệ. Đúng là như thế!
Ước gì mỗi chúng ta đều như những chiếc lá luôn xanh biếc màu đức tin, luôn khiêm nhường vẫy chào đón Đức Kitô trong mọi hoàn cảnh, trong lúc vui đã đành, trong lúc buồn mới thực sự có giá trị. Được như vậy là đã hiểu được triết lý của sự đau khổ rồi đấy!
Lạy Thiên Chúa toàn năng, xin ban Thần Khí để con có thể hiểu được triết lý của sự đau khổ, thông suốt triết lý của Thập Giá, nhờ đó con đủ sức vững bước theo chân Ngài đi xuyên qua mọi đau khổ. Xin  giúp con can đảm cùng chết với Đức Kitô để xứng đáng được phục sinh vinh quang với Ngài. Con cầu xin nhân Danh Thánh Tử Giêsu Kitô, Thiên Chúa Cứu Độ của con. Amen./.
Trầm Thiên Thu
Read more…

Philippines giết 10 tay súng Abu Sayyaf nhưng không cứu được 6 con tin Việt Nam

             Kết quả hình ảnh cho abu sayyaf di filipina

(Ảnh: soha.vn)
Một tướng lục quân Philippines hôm 3 tháng 4 cho biết, binh sĩ của họ đã bắn chết hơn 10 tay súng của phiến quân Abu Sayyaf- tổ chức có liên kết với Phiến quân Nhà nước Hồi Giáo- trong một nỗ lực giải thoát các con tin Việt Nam đang bị cầm tù tại một hoang đảo ở miền nam nước này.
Tổ chức phiến quân Abu Sayyaf bắt đầu nổi lên từ những năm 1990 ở miền Nam Philippines và mới đây, thề trung thành với Nhà nước Hồi giáo ở Iraq và Syria (IS).
Nhóm này nổi tiếng tống tiền, chặt đầu và bắt cóc để đòi tiền chuộc đang cầm giữ hơn hai chục con tin tại đảo Jolo. Họ đã chặt đầu một con tin người Đức hai tháng trước, vì không nhận được tiền chuộc sau thời hạn ấn định.
Trung tướng Carlito Galvez, tư lệnh quân đội miền tây Mindanao cho biết 32 binh sĩ Philippines bị thương trong cuộc tấn công vào sào huyệt của Abu Sayyaf ở thị trấn Talipao, nơi mọi người tin rằng họ đang cầm giữ 6 con tin Việt Nam.
Thi thể của 10 tay súng phiến quân Abu Sayyaf được tìm thấy, nhưng không rõ số phận của các con tin.
Có 4 binh sĩ Philippines bị thương được không vận đến bệnh viện để cấp cứu. 28 người khác, trong đó có một tiểu đoàn trưởng bị thương nhẹ.
Song Châu / SBTN
Read more…

Hộ Khẩu và Nhà - Cái nào đi trước?

Cafe Ku Búa

 Có vài câu chuyện và câu hỏi hại não cho các bạn tự hỏi rồi tự trả lời. “Hộ Khẩu và Nhà - Cái nào di trước?”
1 -- Có một chàng quê Cà Mau lên Sài Gòn sinh sống. Giờ anh ta muốn chuyển hộ khẩu về Sài Gòn. Giờ cán bộ nói muốn nhập khẩu vô Sài Gòn phải cắt hộ khẩu ở Cà Mau. Giờ anh ta về cắt hộ khẩu ở Cà Mau nhưng một anh cán bộ khác lại nói “Giờ anh cắt hộ khẩu, là không có hộ khẩu thì làm sao nhập hộ khẩu?” Hộ Khẩu và Nhà - Cái nào di trước?
2 -- Một chú Việt Kiều về Việt Nam mua nhà. Nhưng không mua được vì không có hộ khẩu. Mà muốn có hộ khẩu thì phải có nhà. Mà muốn mua nhà thì phải có hộ khẩu. Mà muốn có hộ khẩu thì trước tiên phải có nhà. Mà không có nhà thì làm sao làm hộ khẩu. Hộ Khẩu và Nhà - Cái nào di trước?
3 -- Một ông ăn xin kia sống không nhà cửa. Không nhà cửa thì không có hộ khẩu. Mà không có hộ khẩu thì không làm giấy tờ được, không làm Chứng Minh Nhân Dân được. Nghĩa là không phải là công dân. Vậy muốn làm công dân trước tiên phải có hộ khẩu. Mà muốn có hộ khẩu thì trước tiên phải có nhà. Mà giờ không có nhà sao làm hộ khẩu được? Hộ Khẩu và Nhà - Cái nào di trước?
4 -- Có anh kia bán nhà nhưng chưa kịp thời mua nhà khác. Hộ khẩu anh ta đăng ký ở nhà cũ. Giờ nhà cũ bán thì người khác là chủ hộ khẩu. Giờ anh đó không có nhà. Không có nhà thì bị xóa hộ khẩu. Giờ muốn làm hộ khẩu phải có nhà. Mà muốn mua nhà phải có hộ khẩu. Mà muốn có hộ khẩu thì phải có nhà. Hộ Khẩu và Nhà - Cái nào di trước?
Nếu đọc xong không hiểu gì thì không sao vì người viết cũng chẳng hiểu nổi. Hộ Khẩu và Nhà - Cái nào di trước? Ai có thể trả lời được?
Ku Búa @ Cafe Ku Búa

T
Read more…

MỘT NĂM THẢM HOẠ FORMOSA : BAO NHIÊU NƯỚC MẮT ĐÃ TUÔN RƠI VÌ MIỀN TRUNG ĐAU THƯƠNG !


Trong con mắt người dân, Formosa (Tầu cộng đứng sau) và bọn Việt gian đi đêm với nhau.
Chúng đã gây ra biển chết. Thảm họa này kéo dài ko biết đến bao nhiêu năm nữa với những thiệt hại nặng nề về tính mạng và sức khỏe của người dân, về môi trường sống và về kinh tế.
Loanh quanh dối trá che đậy, ko xong. Bằng cách cúi đầu xin lỗi cùng với 500 triệu USD, chúng cho rằng có thể mua được sự im lặng của nhân dân VN.
Người dân VN ko bao giờ chấp nhận sự sỉ nhục này.
Với thảm họa Formosa, bao nhiêu nghìn ngư dân Miền Trung đã rơi vào cảnh không còn đường sinh sống. Biển chết. Nước biển hoà chất độc. Kim loại nặng cực độc bám vào các tầng dưới sâu không bao giờ có thể thu gom lại được. Cá tôm, hải sản chết thảm khốc. Tàu, thuyền đánh cá mãi neo đậu trên bờ, vô vọng.
Người dân Miền Trung, cùng sự sát cánh hậu thuẫn của nhân dân cả nước, quyết đấu tranh đòi Formosa phải trả lại môi trường biển sạch, phải đền bù thỏa đáng mọi thiệt hại cho người dân, trớ trêu thay lại chỉ nhận được sự đàn áp !
Formosa phải đền bù tất cả, đóng cửa nhà máy và trở về nước. Những tên Việt gian tối cao có chức quyền, cùng những quan lại bưng bô, nịnh hót đã tiếp tay gây tội ác, cần phải được vạch mặt và yêu cầu rời bỏ chức vụ, đưa ra xét xử.
Những cơn bão dữ dội xuất phát từ sự phẫn nộ của nhân dân chắc chắn sẽ mãi mãi tiếp tục nổ ra.
****
P/S : Số liệu khi thi công toàn bộ công trình, tháng 10.2014 : 15 nhà thầu TQ ( xem như nhà thầu chính ) / 12 nhà thầu Đài Loan ( Chủ đầu tư : Tập đoàn Formosa Đài Loan ) ; 4.568 ng TQ / 5.917 ng nước ngoài làm việc trên toàn công trình ( 77 % ).

Read more…

Chiều tưởng nhớ Hoàng Cầm, Phạm Duy


Nguyen Manh Tuan

Hai mươi mốt năm ngắn ngủi của nền cộng hòa Việt Nam, từ 1954 đến 1975, đã để lại cho đời một di sản thi nhạc mà cho đến nay, sau hơn bốn mươi năm bị trù dập, muốn xoá bỏ nhưng nó vẫn sống trong lòng nhiều người Việt, trong cũng như ngoài nước.
Trong số những nghệ sĩ tạo dựng nên di sản đó có Phạm Duy, mà MC Phạm Phú Nam gọi là một thiên tài trong lời giới thiệu chương trình “Chiều tưởng nhớ Hoàng Cầm Phạm Duy” được tổ chức miễn phí tại hội trường Quận hạt Santa Clara ở San Jose hôm Chủ Nhật 26/3 vừa qua.
Thời Việt Nam Cộng hòa có rất nhiều nhạc sĩ, nhưng đã trải qua nhiều không gian và giai đoạn lịch sử khác nhau chỉ có Phạm Duy.
Ông là nghệ sĩ cùng thời với các nhạc sĩ Văn Cao, Lưu Hữu Phước, Nguyễn Xuân Khoát, các thi sĩ Hoàng Cầm, Quang Dũng, Hữu Loan, những người một thời đi theo kháng chiến.
Nhưng Phạm Duy sau đó đã bỏ khu về thành, vào Nam, qua Mỹ rồi lại trở về cố hương để xuôi tay nhắm mắt. Việc ông chọn không gian để sống, và để chết, đã gây ra những tranh cãi trong và ngoài nước từ nhiều năm qua.
Sáng tác qua nhiều giai đoạn lịch sử nên nhạc Phạm Duy có được sự gần gũi, thân thương với thính giả mọi tầng lớp, từ em bé chăn trâu, bà mẹ quê, cô nữ sinh, chàng sinh viên, đến những thanh niên muốn nổi loạn, những binh lính, những quả phụ tử sĩ và cả người sống lưu vong. Nhạc của ông là khúc dân ca, những bản tình ca, hùng ca, tục ca, đạo ca, bình ca, ngục ca, là những khúc hát trên đường tạm dung.
Cựu Đại tá Vũ Văn Lộc, giám đốc cơ quan IRCC, là người cùng với Dân Sinh Media của ông Phạm Phú Nam đứng ra tổ chức, đã hồi tưởng lại thời thiếu niên được nghe Phạm Duy, Hoàng Cầm trong một đêm văn nghệ ở quê Ninh Bình. Đêm đó tinh thần kháng chiến chống Pháp trong quần chúng sôi sục dâng cao. Đó là năm 1946, khi người Việt chưa rõ cộng sản là gì.
Khi hiểu cộng sản, Phạm Duy bỏ về thành rồi vào nam. Hoàng Cầm ở lại miền bắc, tham gia phong trào Nhân văn Giai phẩm và cuộc đời vướng nhiều cay đắng, éo le.
Ái nữ của nhà thơ là Kiều Loan di cư vào Nam năm 1954 và mãi cho đến năm 1977, sau ngày đất nước thống nhất, ông mới có cơ hội gặp lại con, nhưng cũng chỉ trong giây phút ngắn ngủi vì đó cũng là lúc cô con gái chuẩn bị xuống thuyền vượt biển. Thế là bố con lại phải biền biệt vắng tin thêm nhiều năm nữa cho đến một ngày nghe được giọng con ngâm thơ qua làn sóng BBC.
Hôm nay, Kiều Loan diễn ngâm thơ tình của bố: “Đêm phương Bắc”
Đêm phương Bắc khi sao hôm nhẹ khóc
Hương tím em về đậu giữa trang thơ
Thả cô đơn gió xanh lùa mái tóc
Dìu em đi từng bước ấm sương mờ
Ngày em ngủ bến mi anh nắng đọng
Chiều em đi không quá một vòng tay
Tối em về gió ru em vỗ sóng
Trên ngực tròn hương tím thức đêm say…
Trong bài viết về Hoàng Cầm, Phạm Duy đã ghi rằng thi sĩ “bị bắt vào năm 82 vì nhờ một Việt kiều đem tập thơ ‘Men đá vàng’ ra ngoại quốc cho con gái.”
Nhớ tình bạn xưa, ở hải ngoại Phạm Duy phổ thơ của ông thành “Hoàng Cầm ca” và trong chương trình tưởng nhớ, Thái Hà cất tiếng hát “Lá diêu bông”.
Đứa nào tìm được lá diêu bông
Từ nay tao sẽ nhận làm chồng
Tao sẽ nhận làm chồng
Đứa nào tìm được lá diêu bông
Mùa đông sau em tìm thấy lá
Chị lắc đầu trông nắng vãn bên sông…
Chị đã ba con em tìm thấy lá
Xòe tay phủ mặt chị không nhìn…
Bài thơ ông viết vào mùa đông năm 1959. Lời thơ khó hiểu vì đâu ai biết lá diêu bông có hình dạng, sắc mầu ra sao. Chỉ là một loại lá trong ảo tưởng, nên đã có diễn giải tác giả muốn nói đến một thứ chủ nghĩa ảo trên đất nước Việt Nam.
Hoàng Cầm sinh năm 1922, mất 2010. Phạm Duy sinh năm 1921, mất 2013. Giờ này hai cụ đã nối lại tình bạn xưa ở cõi trên, nhìn xuống dương trần thấy con gái Kiều Loan ngâm mấy vần thơ, nghe con trai Duy Hùng cất lời ca chắc các cụ cũng ấm lòng.
Cũng được ấm lòng là hơn 300 khán giả đến với buổi chiều tưởng nhớ hai người nghệ sĩ đã để lại nhiều dấu ấn cho nền văn học nghệ thuật nước nhà.
Nói về nhạc Phạm Duy, cựu Đại tá Vũ Văn Lộc kể rằng từ ngày vào quân trường ông đã hát “Xuất quân” biết bao lần và hát đi hát lại cho đến ngày miền Nam rơi vào tay cộng sản: “Ngày bao hùng binh tiến lên / Bờ cõi vang lừng câu chiến thắng…”
Phạm Duy để lại cho đời cả nghìn bài ca. Dù hiện nay nhà nước còn cấm hầu hết những ca khúc của ông, nhưng dòng nhạc Phạm Duy vẫn âm ỉ trong lòng người Việt.
Chương trình gồm một số ca khúc tiêu biểu của ông như “Kỷ niệm”, qua tiếng hát Văn Quân; “Tiếng sáo thiên thai”, thơ Thế Lữ do Thái Hà và Hoàng Lan song ca; “Về mái nhà xưa” lời Việt của Phạm Duy do bác sĩ Lê Việt, con trai của nữ danh ca Thái Thanh thể hiện.
Thứ nam của Phạm Duy là Phạm Duy Hùng đã đàn và hát “Kiếp sau”, phổ thơ Cung Trầm Tưởng.
Một số ca khúc của Phạm Duy đến nay còn lưu lại trong lòng nhiều xúc động cho những ai đã trải qua hành trình vượt biển. “Thuyền viễn xứ”, phổ thơ Huyền Chi; do Hoàng Lan trình bày, là gợi lại hình ảnh con thuyền ra khơi bỏ lại quê nhà:
Chiều nay sương khói lên khơi
Thùy dương rũ bến tời bời
Làn mây hồng pha rán trời
Sóng Đà giang thuyền qua xứ người…
Hay vào buổi sáng trên đảo tị nạn, nghe loa phát ra lời ca tiếng nhạc “Nghìn trùng xa cách người đã đi rồi, còn gì đâu nữa mà khóc với cười…” mà buồn miên man.
Hôm nay, qua tiếng vĩ cầm của giáo sư âm nhạc Trần Nhật Hiền, phu quân của nghệ sĩ Kiều Loan, những âm điệu đó vẫn mang lại thổn thức quá khứ cho nhiều khán giả.
Một ca khúc đã làm rúng động miền nam và theo lời MC Phạm Phú Nam: “Nhưng chính phủ Việt Nam Cộng hòa không biết giải quyết như thế nào vì bài hát này đã được loan truyền rộng rãi… Nhưng dù đang ở chiến trường, ở bệnh viện hay những nơi xa xôi của đất nước, những người lính cũng nhận ra tính nhân bản. Đó là điều làm cho chúng ta khác với miền bắc.”
Em hỏi anh em hỏi anh bao giờ trở lại
Xin trả lời xin trả lời mai mốt anh về
Anh trở về trên chiếc băng ca
Trên trực thăng sơn mầu tang trắng
Anh trở về trên đôi nạng gỗ
Anh trở về hòm gỗ cài hoa…
Ca từ của “Kỷ vật cho em”, phổ thơ Linh Phương được Đồng Thảo trình bày đã gây nhiều xúc động cho người nghe.
Nhắc đến nhạc Phạm Duy thì không thể thiếu “Tình ca”, Diệu Linh thể hiện, là một ghi chép lịch sử về đất nước, về con người Việt Nam:
Tiếng nước tôi bốn nghìn năm ròng rã buồn vui
Khóc cười theo mệnh nước nổi trôi…
Hơn nửa thế kỷ trước, khi vừa viết xong ca khúc “Giọt mưa trên lá” Phạm Duy đã xuất hiện tại Mỹ trong chương trình Rainbow Quest hát lời Việt và Anh – “The rain on the leaves” – hòa trong tiếng ghi-ta và banjo cùng với các ca sĩ Peter Seeger, Steve Addiss và Bill Crofut.
Trong chiều tưởng niệm, tất cả nghệ sĩ đến với chương trình đã cất tiếng đồng ca với Duy Hùng đàn ghi-ta:
Giọt mưa trên lá nước mắt mẹ già
Lã chã đầm đìa trên xác con lạnh giá
Giọt mưa trên lá nước mắt mặn mà
Thiếu nữ mừng vì tan chiến tranh chồng về…
Chương trình tưởng niệm đã được mở đầu với quốc ca Mỹ, Việt và khúc chiêu niệm “Chiến sĩ vô danh” – cũng là nhạc Phạm Duy – do cựu sĩ quan Sư đoàn 5 Bộ binh, cựu tù binh chiến tranh hai lần, là cựu Thiếu úy Phạm Ngọc thể hiện.
Chương trình kết thúc với chung khúc “Việt Nam, Việt Nam” được cả hội trường cùng hát:
Việt Nam không đòi xương máu
Việt Nam kêu gọi thương nhau
Việt Nam đi xây đắp yên vui dài lâu…
Đó là tuyên ngôn của nước Việt Nam. MC Phạm Phú Nam kể lại rằng nhạc phẩm này đã được những người lính hải quân hát vang khi chiến đấu ở Hoàng Sa năm 1974, đã được những người vượt biển gặp nạn cất tiếng hát trên đảo Ko Kra và ca từ của “Việt Nam, Việt Nam” là những lời cuối mà Tổng thống Nguyễn Văn Thiệu yêu cầu được nghe trước khi ông từ trần.
                    Kết quả hình ảnh cho Ngọc Lễ

Đồng ca “Việt Nam, Việt Nam”. Từ trái: Phạm Ngọc, Lê Việt, Duy Hùng và vợ Lê Xuân Lộc, Kiều Loan, Đồng Thảo, Diệu Linh. (Ảnh: Bùi Văn Phú)

Hai mươi mốt năm ngắn ngủi của nền cộng hòa Việt Nam, từ 1954 đến 1975, đã để lại cho đời một di sản thi nhạc mà cho đến nay, sau hơn bốn mươi năm bị trù dập, muốn xoá bỏ nhưng nó vẫn sống trong lòng nhiều người Việt, trong cũng như ngoài nước.
Trong số những nghệ sĩ tạo dựng nên di sản đó có Phạm Duy, mà MC Phạm Phú Nam gọi là một thiên tài trong lời giới thiệu chương trình “Chiều tưởng nhớ Hoàng Cầm Phạm Duy” được tổ chức miễn phí tại hội trường Quận hạt Santa Clara ở San Jose hôm Chủ Nhật 26/3 vừa qua.
Thời Việt Nam Cộng hòa có rất nhiều nhạc sĩ, nhưng đã trải qua nhiều không gian và giai đoạn lịch sử khác nhau chỉ có Phạm Duy.
Ông là nghệ sĩ cùng thời với các nhạc sĩ Văn Cao, Lưu Hữu Phước, Nguyễn Xuân Khoát, các thi sĩ Hoàng Cầm, Quang Dũng, Hữu Loan, những người một thời đi theo kháng chiến.
Nhưng Phạm Duy sau đó đã bỏ khu về thành, vào Nam, qua Mỹ rồi lại trở về cố hương để xuôi tay nhắm mắt. Việc ông chọn không gian để sống, và để chết, đã gây ra những tranh cãi trong và ngoài nước từ nhiều năm qua.
Sáng tác qua nhiều giai đoạn lịch sử nên nhạc Phạm Duy có được sự gần gũi, thân thương với thính giả mọi tầng lớp, từ em bé chăn trâu, bà mẹ quê, cô nữ sinh, chàng sinh viên, đến những thanh niên muốn nổi loạn, những binh lính, những quả phụ tử sĩ và cả người sống lưu vong. Nhạc của ông là khúc dân ca, những bản tình ca, hùng ca, tục ca, đạo ca, bình ca, ngục ca, là những khúc hát trên đường tạm dung.
                              Kết quả hình ảnh cho Nghệ sĩ
Nghệ sĩ tham gia chương trình tưởng niệm Hoàng Cầm, Phạm Duy. (Ảnh: Bùi Văn Phú)

Cựu Đại tá Vũ Văn Lộc, giám đốc cơ quan IRCC, là người cùng với Dân Sinh Media của ông Phạm Phú Nam đứng ra tổ chức, đã hồi tưởng lại thời thiếu niên được nghe Phạm Duy, Hoàng Cầm trong một đêm văn nghệ ở quê Ninh Bình. Đêm đó tinh thần kháng chiến chống Pháp trong quần chúng sôi sục dâng cao. Đó là năm 1946, khi người Việt chưa rõ cộng sản là gì.
Khi hiểu cộng sản, Phạm Duy bỏ về thành rồi vào nam. Hoàng Cầm ở lại miền bắc, tham gia phong trào Nhân văn Giai phẩm và cuộc đời vướng nhiều cay đắng, éo le.
Ái nữ của nhà thơ là Kiều Loan di cư vào Nam năm 1954 và mãi cho đến năm 1977, sau ngày đất nước thống nhất, ông mới có cơ hội gặp lại con, nhưng cũng chỉ trong giây phút ngắn ngủi vì đó cũng là lúc cô con gái chuẩn bị xuống thuyền vượt biển. Thế là bố con lại phải biền biệt vắng tin thêm nhiều năm nữa cho đến một ngày nghe được giọng con ngâm thơ qua làn sóng BBC.
                    Kết quả hình ảnh cho Hoàng Cầm
Nghệ sĩ Kiều Loan, ái nữ của thi sĩ Hoàng Cầm. (Ảnh: Bùi Văn Phú)

Hôm nay, Kiều Loan diễn ngâm thơ tình của bố: “Đêm phương Bắc”
Đêm phương Bắc khi sao hôm nhẹ khóc
Hương tím em về đậu giữa trang thơ
Thả cô đơn gió xanh lùa mái tóc
Dìu em đi từng bước ấm sương mờ
Ngày em ngủ bến mi anh nắng đọng
Chiều em đi không quá một vòng tay
Tối em về gió ru em vỗ sóng
Trên ngực tròn hương tím thức đêm say…
                    Kết quả hình ảnh cho Phạm Duy
“Hoàng Cầm ca” do Phạm Duy phổ nhạc. (Ảnh: Bùi Văn Phú)

Trong bài viết về Hoàng Cầm, Phạm Duy đã ghi rằng thi sĩ “bị bắt vào năm 82 vì nhờ một Việt kiều đem tập thơ ‘Men đá vàng’ ra ngoại quốc cho con gái.”
Nhớ tình bạn xưa, ở hải ngoại Phạm Duy phổ thơ của ông thành “Hoàng Cầm ca” và trong chương trình tưởng nhớ, Thái Hà cất tiếng hát “Lá diêu bông”.
Đứa nào tìm được lá diêu bông
Từ nay tao sẽ nhận làm chồng
Tao sẽ nhận làm chồng
Đứa nào tìm được lá diêu bông
Mùa đông sau em tìm thấy lá
Chị lắc đầu trông nắng vãn bên sông…
Chị đã ba con em tìm thấy lá
Xòe tay phủ mặt chị không nhìn…
Bài thơ ông viết vào mùa đông năm 1959. Lời thơ khó hiểu vì đâu ai biết lá diêu bông có hình dạng, sắc mầu ra sao. Chỉ là một loại lá trong ảo tưởng, nên đã có diễn giải tác giả muốn nói đến một thứ chủ nghĩa ảo trên đất nước Việt Nam.
Hoàng Cầm sinh năm 1922, mất 2010. Phạm Duy sinh năm 1921, mất 2013. Giờ này hai cụ đã nối lại tình bạn xưa ở cõi trên, nhìn xuống dương trần thấy con gái Kiều Loan ngâm mấy vần thơ, nghe con trai Duy Hùng cất lời ca chắc các cụ cũng ấm lòng.
                      Kết quả hình ảnh cho auditorium  
Trên 300 khán giả tham dự chiều tưởng niệm. (Ảnh: Bùi Văn Phú)

Cũng được ấm lòng là hơn 300 khán giả đến với buổi chiều tưởng nhớ hai người nghệ sĩ đã để lại nhiều dấu ấn cho nền văn học nghệ thuật nước nhà.
Nói về nhạc Phạm Duy, cựu Đại tá Vũ Văn Lộc kể rằng từ ngày vào quân trường ông đã hát “Xuất quân” biết bao lần và hát đi hát lại cho đến ngày miền Nam rơi vào tay cộng sản: “Ngày bao hùng binh tiến lên / Bờ cõi vang lừng câu chiến thắng…
Phạm Duy để lại cho đời cả nghìn bài ca. Dù hiện nay nhà nước còn cấm hầu hết những ca khúc của ông, nhưng dòng nhạc Phạm Duy vẫn âm ỉ trong lòng người Việt.
                        Kết quả hình ảnh cho Cá
“Tiếng sáo thiên thai” qua giọng ca Hoàng Lan, bên phải, và Thái Hà. (Ảnh: Bùi Văn Phú)

Chương trình gồm một số ca khúc tiêu biểu của ông như “Kỷ niệm”, qua tiếng hát Văn Quân; “Tiếng sáo thiên thai”, thơ Thế Lữ do Thái Hà và Hoàng Lan song ca; “Về mái nhà xưa” lời Việt của Phạm Duy do bác sĩ Lê Việt, con trai của nữ danh ca Thái Thanh thể hiện.
Thứ nam của Phạm Duy là Phạm Duy Hùng đã đàn và hát “Kiếp sau”, phổ thơ Cung Trầm Tưởng.
Một số ca khúc của Phạm Duy đến nay còn lưu lại trong lòng nhiều xúc động cho những ai đã trải qua hành trình vượt biển. “Thuyền viễn xứ”, phổ thơ Huyền Chi; do Hoàng Lan trình bày, là gợi lại hình ảnh con thuyền ra khơi bỏ lại quê nhà:
Chiều nay sương khói lên khơi
Thùy dương rũ bến tời bời
Làn mây hồng pha rán trời
Sóng Đà giang thuyền qua xứ người…
Hay vào buổi sáng trên đảo tị nạn, nghe loa phát ra lời ca tiếng nhạc “Nghìn trùng xa cách người đã đi rồi, còn gì đâu nữa mà khóc với cười…” mà buồn miên man.
Hôm nay, qua tiếng vĩ cầm của giáo sư âm nhạc Trần Nhật Hiền, phu quân của nghệ sĩ Kiều Loan, những âm điệu đó vẫn mang lại thổn thức quá khứ cho nhiều khán giả.
Một ca khúc đã làm rúng động miền nam và theo lời MC Phạm Phú Nam: “Nhưng chính phủ Việt Nam Cộng hòa không biết giải quyết như thế nào vì bài hát này đã được loan truyền rộng rãi… Nhưng dù đang ở chiến trường, ở bệnh viện hay những nơi xa xôi của đất nước, những người lính cũng nhận ra tính nhân bản. Đó là điều làm cho chúng ta khác với miền bắc.”
Em hỏi anh em hỏi anh bao giờ trở lại
Xin trả lời xin trả lời mai mốt anh về
Anh trở về trên chiếc băng ca
Trên trực thăng sơn mầu tang trắng
Anh trở về trên đôi nạng gỗ
Anh trở về hòm gỗ cài hoa…
Ca từ của “Kỷ vật cho em”, phổ thơ Linh Phương được Đồng Thảo trình bày đã gây nhiều xúc động cho người nghe.
Nhắc đến nhạc Phạm Duy thì không thể thiếu “Tình ca”, Diệu Linh thể hiện, là một ghi chép lịch sử về đất nước, về con người Việt Nam:
Tiếng nước tôi bốn nghìn năm ròng rã buồn vui
Khóc cười theo mệnh nước nổi trôi…
Hơn nửa thế kỷ trước, khi vừa viết xong ca khúc “Giọt mưa trên lá” Phạm Duy đã xuất hiện tại Mỹ trong chương trình Rainbow Quest hát lời Việt và Anh – “The rain on the leaves” – hòa trong tiếng ghi-ta và banjo cùng với các ca sĩ Peter Seeger, Steve Addiss và Bill Crofut.
                       
Duy Hùng, thứ nam của nhạc sĩ Phạm Duy, hát “Kiếp sau”. (Ảnh: Bùi Văn Phú)

Trong chiều tưởng niệm, tất cả nghệ sĩ đến với chương trình đã cất tiếng đồng ca với Duy Hùng đàn ghi-ta:
Giọt mưa trên lá nước mắt mẹ già
Lã chã đầm đìa trên xác con lạnh giá
Giọt mưa trên lá nước mắt mặn mà
Thiếu nữ mừng vì tan chiến tranh chồng về…
Chương trình tưởng niệm đã được mở đầu với quốc ca Mỹ, Việt và khúc chiêu niệm “Chiến sĩ vô danh” – cũng là nhạc Phạm Duy – do cựu sĩ quan Sư đoàn 5 Bộ binh, cựu tù binh chiến tranh hai lần, là cựu Thiếu úy Phạm Ngọc thể hiện.
Chương trình kết thúc với chung khúc “Việt Nam, Việt Nam” được cả hội trường cùng hát:
Việt Nam không đòi xương máu
Việt Nam kêu gọi thương nhau
Việt Nam đi xây đắp yên vui dài lâu…
Đó là tuyên ngôn của nước Việt Nam. MC Phạm Phú Nam kể lại rằng nhạc phẩm này đã được những người lính hải quân hát vang khi chiến đấu ở Hoàng Sa năm 1974, đã được những người vượt biển gặp nạn cất tiếng hát trên đảo Ko Kra và ca từ của “Việt Nam, Việt Nam” là những lời cuối mà Tổng thống Nguyễn Văn Thiệu yêu cầu được nghe trước khi ông từ trần.
Read more…

Contact us