30 dấu hiệu cho thấy một đất nước đã bị bán

 Khi người ta nói đến từ “bán nước” thì họ thường nghĩ đến việc mua bán như một món hàng. Nhưng trong chính trị, bán nước không nhất thiết là “bán” như mua bán một món hàng, nghĩa là tôi bán cho anh cái này rồi anh đưa tôi tiền. Bán nước ở đây là đưa cho người khác sự ảnh hưởng và phép để tận dụng đất nước mình, tài nguyên mình, cơ sở của mình và người dân mình để đổi lấy lợi ích cá nhân. Đó là bán nước. Vậy hiện tại làm sao để biết được một đất nước đã bị bán? Theo tôi thì có 30 dấu hiệu. Đúng hay sai thì tùy vào nhận xét của độc giả. Ở đây tôi không nói nước nào nhất định cả, đây là nhận xét chung theo góc nhìn lịch sử. Dấu hiệu gì cho thấy một đất nước đã bị bán?

  1. Các công ty nước ngoài, nhất là các công ty từ một nước nhất định, trúng thầu 90% các dự án xây dựng và công trình của chính phủ.
  2. Quốc kỳ của một đất nước nhìn giống quốc kỳ của một nước khác.
  3. Chính phủ nước cho phép nước khác lộng hành trong hải phận của mình.
  4. Khi nước khác xây dựng nhà ở, sân bay hay đảo nhân tạo thì chính phủ nước đó im re.
  5. Khi người dân người đó biểu tình chống nước ngoài, họ lại bị bắt và cáo buộc là phản động.
  6. Chính phủ nước đó xây dựng tình hữu nghị với nước kia, dù nước kia chẳng coi họ ra gì.
  7. Bộ giáo dục nước đó triển khai chương trình học tiếng nước khác mặc dù ngôn ngữ phổ biến nhất là tiếng Anh.
  8. Hàng hóa buôn lậu từ nước kia nhập vô một cách ào ạt.
  9. Dân lao động nước kia đổ vô nước đó một cách phi pháp nhưng chính phủ không làm gì.
  10. Chính phủ nước đó tỏ thái độ ngoan ngoãn trước chính phủ nước kia.
  11. Chính phủ nước đó bắn 21 phát đại bác để chào đón lãnh tụ quốc gia của nước kia, một hành động cực hiếm. Tổng thống Mỹ còn không được vinh dự đó.
  12. Nước đó lấy hệ thống hành chính từ nước kia, như một bản sao thu nhỏ.
  13. Truyền hình chính phủ nước đó có kênh tiếng nước kia, mặc dù người xem rất ít.
  14. Các công ty nước kia đổ vô nước đó làm ăn trái phép mà vẫn không bị gì.
  15. Chính phủ nước đó cho phép nước kia khai thác tài nguyên với giá rẻ mạt.
  16. Hàng hóa nước kia tràn ngập vào trong nước đó.
  17. Người dân nước đó bắt đầu xì xào rằng nước mình đã bị bán.
  18. Quan chức nước đó bắt đầu chuyển tài sản ra nước ngoài, cho con cái du học định cư nước ngoài.
  19. Người dân nước đó lo sợ rồi tìm đủ cách để lấy quốc tịch khác.
  20. Khi tàu cá và ngư dân nước đó bị tàu nước kia đánh, chính phủ nước đó lại im lặng.
  21. Chính phủ nước đó không tưởng niệm ngày mà các chiến sỹ nước đó hy sinh khi chiến đấu với nước kia.
  22. Nước đó có nhiều dư luận viên lên mạng định hướng và trấn an dư luận.
  23. Quân sự nước kia càng ngày càng bành trướng trong lãnh thổ của nước đó.
  24. Cán bộ nước đó khinh người dân của mình nhưng lại sợ người dân của nước kia.
  25. Người dân lại tin lời đồn là 2 nước sẽ sáp nhật, mặc dù nó là tin vịt.
  26. Người dân nước đó coi nước kia là kẻ thù nhưng chính phủ lại khẳng định 2 nước là anh em thân thiết.
  27. Nhiều nhà hoạt động chống nước kia lại bị chính phủ của mình bắt và bỏ tù.
  28. Chính phủ nước đó đã từng ký công hàm công nhận vùng đất của nước đó thuộc về nước kia.
  29. Người dân khẳng định nước mình đã bị bán và tin rằng ai nói điều ngược lại là hoang tưởng.
  30. Và cuối cùng, chính phủ nước kia kiểm soát chính phủ nước đó gần như tuyệt đối.
Cấm bạn nào phản động nhé. Tôi chỉ dùng lịch sử để nói thôi chứ không nói nước nào nhé. Vậy nước mình đã bị bán chưa
?
Read more…

Ủng hộ vô điều kiện cho những người đấu tranh...

Mai Tú Ân

Mỗi một người đấu tranh dân chủ xuất hiện và chiếm lĩnh diễn đàn với số lượng người xem đông đảo đều chứng tỏ rằng, họ là những người có tài, có khả năng thu hút và dẫn dắt người xem chúng ta. Mặc dù ở phía thông tin lề trái với muôn ngàn khăn nguy hiểm nhưng những con người đó vẫn làm khuynh đảo thông tin lề trái, khai dân trí và mở mang dân sinh đến cho tất cả, và mãi mãi là những cái gai trong mắt của nhà cầm quyền.
Những con người đó luôn nâng cao ngọn cờ đấu tranh dân chủ, phản biện và công bằng xã hội luôn trong một cuộc đấu tranh không cân sức và không phải cho mình. Họ ở trong mọi lãnh vực, mọi diễn đàn và mọi mặt trận mà chỉ khi vận mệnh dân tộc bị thử thách thì họ mới xuất hiện, “đem thân ra đáp đền sông núi”.
Đó là những cái tên mà nhiều người trong chúng ta đều biết nhiều hay ít như Vũ Quang Thuận, Nguyễn Văn Điển, Huỳnh Quốc Huy, Lê Dung Vova, Phan Văn Bách…. Với hình thức livetream trực tiếp rất hữu dụng, họ đã đưa những điều họ cần đưa đến với người dân cần nghe. Hàng triệu người dân Việt Nam đã cùng nghe họ, những người anh hùng của thông tin lề trái. Cùng với những nguồn thông tin phong phú khác ở hải ngoại thì có thể nói dân Việt ta đang được hưởng vô tận mọi thông tin để mở rộng mọi kiến thức thu nạp ở trên đời. Chúng ta có thể xem clip của họ hay không, có thể xem người này không xem người kia, xem tin này mà không xem tin kia, cũng như mọi quyền dân chủ không thể cưỡng đoạt để bình luận, tán thành hay phản bác bằng sự thông thái hay hiểu biết. Chúng ta có quyền tuyệt đối của những ông bà chủ về việc tiếp nhận thông tin hay không, quyền thích hay không thích tất cả các thông tin ấy…
Nhưng chúng ta không có quyền đả kích, mạt sát vô cớ và bất công vào những người đã hết lòng đưa các thông tin trung thực nhất ấy cho chúng ta một cách tốt nhất và hoàn toàn miễn phí. Đó là những thông tin sự thực nhất có thể ở cái nơi mù mịt thông tin nhất của những con người có tài, có tâm và có cả dũng nữa. Họ đã chấp nhận bao khó khăn nguy hiểm, bao sóng gió bão táp mà ta có thể nhìn thấy được lẫn không nhìn thấy được luôn lơ lửng trên đầu họ để đem lại cho chúng ta 
tất cả những gì chúng ta cần. Họ chẳng được gì cả nhưng những người trong số họ thì đều phải trả giá vì sự hy sinh không phải cho mình. Vũ Quang Thuận đã phải trả giá với nhiều năm tháng tù đầy và không thể biết được ai sẽ lại là người kế tiếp để trả nợ núi sông. Thật bất công quá cho những con người khi phải đối đầu với bạo quyền lại cả đối đầu với những người tưởng chung chiến tuyến.
Như những dòng sông mang phù sa ra biển lớn, như những cơn mưa về vùng nắng hạn, những con người đấu tranh can đảm đó đang ngày đêm tôi luyện để đem những hiểu biết của mình đến cho những người dân muốn hiểu biết. Và như mọi con người yêu nước và đa cảm khác, họ đều muốn chúng ta hiểu biết họ như những người bạn chân thành chứ không phải như là những kẻ độc đoán, nhỏ mọn và chỉ chuyên nhăm nhăm soi mói rình bắt tội họ...

Mai Tú Ân
Read more…

Mấy khẳng định ngớ ngẩn về Alexandre de Rhodes

Ngày 18.1.1615 ba tu sĩ dòng Tên Franceso Buzomi, Diego Carvalho và Antonio Diaz đặt chân lên đất Việt Nam, mở đầu một cuộc truyền giáo của dòng, mà theo Alexandre de Rhodes nhận định, đây sẽ là một trong những cánh đồng nhiều hoa trái nhất trên toàn cõi Đông phương.
Từ đó tới nay đúng 400 năm.
Nhân kỉ niệm biến cố trọng đại này, một sử gia người Đức thuộc dòng Tên, linh mục giáo sư Klaus Schatz đã hoàn thành một biên khảo (250 trang) về Alexandre de Rhodes, để giới thiệu cho các dân tộc nói tiếng Đức về hành trạng và ý nghĩa lịch sử con người thừa sai lạ lùng đó. Cuốn sách “…Dass diese Mission eine der blühendsten des Ostens werde. Alexander de Rhodes und die frühe Jesuitenmission in Vietnam” (…Rằng đây sẽ là một trong những cuộc truyền giáo nhiều hoa trái nhất ở phương Đông. A. de Rhodes và cuộc truyền giáo ban đầu của dòng Tên tại Việt Nam) đã được trình làng trong dịp Đại Hội Công Giáo Việt Nam tại Đức trong tháng 5 năm 2016. GS. Schatz đã mất bốn năm để hoàn thành tác phẩm, kể cả ba tháng sang Việt Nam tới tận những địa danh lịch sử mà các đồng nghiệp của mình ngày trước đặt chân để tìm hiểu.


Tôi là một trong hai người chuyển tác phẩm này ra tiếng Việt. Lúc đầu, cứ tưởng sẽ chẳng có gì mới lạ đối với mình trong cuốn sách tương đối mỏng đó. Nhưng càng đi sâu vào nội dung, càng mở mắt ra, và nhất là càng phục cái tinh thần làm việc kĩ càng và tỉnh táo của một sử gia.
Ở đây, tôi không làm chuyện điểm sách hay giới thiệu tác phẩm. Mà chỉ muốn dùng một số kiến thức trong sách cũng như của một số nhà nghiên cứu đứng đắn khác đã viết về de Rhodes, để giải đáp một số thắc mắc về nhân vật lắm người khen mà cũng không thiếu người chê này.
Trong số những người chê, trước hết dĩ nhiên là đảng và chính quyền Việt Nam. Nhiều chục năm dài, đảng này tuyên án de Rhodes là một tay mở đường cho thực dân, chỉ vì một câu nói trong cuốn sách “Diverses voyages et mission” của ông. Số là sau ba năm (1649-52) ở Roma vận động Giáo Tông (lúc đó là In-nô-xen-xô 10) và Bộ Truyền Giáo (mới được lập năm 1622) gửi giám mục sang Viễn Đông để truyền chức cho người Việt không thành, de Rhodes được lệnh của Tổng Quyền dòng Tên sang Pháp (Paris, 1652-54) tìm ứng viên giám mục và thừa sai cho Việt Nam, và có lẽ cả tìm tài chánh cho cuộc truyền giáo nữa. Trong sách, ông cho hay, ông sẽ sang Pháp, nơi vốn: “là một Vương Quốc đạo đức nhất trần gian” và nước này sẽ cung cấp cho ông “nhiều chiến sĩ để đoạt chiếm toàn cõi đông phương và đưa nó thần phục Giêsu Kitô, và nhất là ở đó tôi có cơ hội tìm được các giám mục, họ sẽ là cha và thầy của chúng ta trong các Giáo Hội này”. Rõ ràng hai từ “chiến sĩ” và “chiếm đoạt” trong câu trên đây chỉ có nghĩa là (có được nhiều) thừa sai để đem toàn cõi Viễn Đông về với đạo Chúa. Đảng và chính quyền cộng sản Việt Nam – hẳn là qua sự cố vấn của các học giả của chế độ – đã cho ghi đậm câu này bên dưới hình de Rhodes trong một bảo tàng ở Hà Nội để lên án ông. Mãi tới giữa thập niên 1990 người ta mới chịu gỡ đi, vì sự phản đối cũng như nhờ những khai minh của nhiều học giả đứng đắn. Chuyện này hình như thời đó Hồng Nhuệ đã làm ồn lên, và ông đã ghi lại sự kiện trong một cuốn sách nhỏ viết về A. de Rhodes. Tấm bia kỉ niệm de Rhodes do Hội Trí Tri và Hội Truyền Bá Quốc Ngữ dựng lên năm 1941 bên bờ Hồ Gươm cũng bị cộng sản gỡ vứt năm 1957; tới 1995 người ta tìm lại được.
Năm 2007 tôi đọc được đâu đó bài “Đi tìm nguồn gốc chữ Quốc Ngữ” của một tác giả ghi là GS.TS Phạm Văn Hường (ĐH Bordeaux). Đọc thấy là lạ và ấn tượng, vì nghĩ ông Giáo sư Bordeaux này hẳn là tay thứ thiệt: ông thông thạo ngôn ngữ, bỏ công đi thực địa tới nơi tới chốn, đến Ma Cao và tới tận Avignon tìm tài liệu… Nghĩ thế, tôi lưu lại bài viết. Nay, nhân làm việc với cuốn sách của giáo sư Schatz, tình cờ sực nhớ, lôi ra lại, thì thấy những điều ông Hường viết… ra sao ấy!
Bài viết của ông Hường mở đầu với câu “Bài viết này có tính chất nghiên cứu khoa học, mọi ý kiến phản biện tranh luận tác giả sẵn sàng lắng nghe…”. Một “bài nghiên cứu khoa học” chưa đầy hai trang giấy với những kết luận chắc như đinh đóng cột, nhưng chẳng có lấy một chỉ dẫn quy chiếu (Referenz) nào cả, để người đọc có thể tham khảo tìm hiểu. Vì hạn chế của một bài báo, tôi chỉ trích lại sau đây vài đoạn của ông Giáo sư, để độc giả tường, và sau đó sẽ bàn sơ vào nội dung từng điểm. Tất cả những phát biểu của ông Hường liên quan tới de Rhodes đều có vấn đề. Nhưng tôi chỉ bàn sơ vài điểm dựa vào những gì đọc được trong sách GS. Schatz và trong hai bài sau đây: Huỳnh Ái Tông, Nguồn gốc chữ Quốc Ngữ (http://chimviet.free.fr/ngonngu/phuctrun/ phu1050.htm) và Hồng Nhuệ, Alexandre de Rhodes và sự hình thành chữ Quốc Ngữ (www.diendan.org/ tai-lieu/bao-cu/so-008/ a.de.rhodes-va-quocngu). Các số liệu và trích dẫn đều từ ba nguồn này.
Sau đây, tôi xin trích vài đoạn trong bài Đi tìm nguồn gốc chữ quốc ngữ của GS.TS Phạm Văn Hường (ĐH Bordeaux) hiện có đăng trên trang sachhiem.net/vanhoc.
[…] Hai giáo sĩ do Amaral và Barbosa trước khi mất có để lại trong nhà thờ San Pauli ở Macau những quyển từ điển Việt – Bồ – La tinh mà họ đã sáng tạo. Alexandro Rhodes là người mang từ điển đó về Âu châu. Năm 1651 người ta thấy có quyển từ điển Việt – Bồ Đào Nha – La tinh xuất bản ở Roma, với tên tác giả là Alexandro de Rhodes […]
Tôi có đi Macau, tìm nguồn nhưng vô hiệu. Tôi cũng tìm đến nơi gia đình họ Rhodes ở gần Avignon… Linh mục Công giáo địa phận này cho tôi tài liệu in bức thư của Alexandro Rhodes khi ông này xin giáo hội dòng Jesus cho ông đi truyền đạo ở Đông Nam Á. Cuối bức thư ấy quả thật có tên Alexandro Rhodes. Nhưng khi rời Á Đông trở về Âu châu, ông này đã kèm thêm tên “de” quý phái khi ra quyển từ điển lịch sử ấy!
Đó là lừa đảo, hay nói thẳng ra đó là hành vi “đạo” công trình của Gaspar do Amaral và Antonio Barbosa, lại tự ý ghép tên mình thêm chữ “de” kệch cỡm! […]
Vị đạo sĩ “đạo” công trình này còn hoang mang dẫn đến sai sót chết người trong cuốn Phép giảng tám ngày.
Thường lệ, lễ đạo theo chu trình 7 ngày hay một tuần lễ […]
Trong các nước Âu châu […] ngày chủ nhật là ngày cuối tuần. Chỉ có ở Lusitana, tên Bồ Đào Nha xưa, chủ nhật là ngày lễ đầu tuần. Kế tiếp là ngày lễ thứ hai, feria secundo, v.v… Dựa theo truyền thống Bồ Đào Nha, họ đã tạo nên những Việt ngữ: chủ nhật, thứ hai, thứ ba v.v… cho đến thứ bảy. Thứ tự những ngày lễ trong tuần này khác hẳn thông lệ ở Pháp, nơi chôn nhau cắt rốn của Alexandro. Có lẽ trước sự hoang mang, bán tín bán nghi, không biết lễ chủ nhật nằm đầu tuần hay cuối tuần nên Rhodes sinh ý Phép giảng tám ngày […]
Cũng vì thế, sau này khi Alexandro Rhodes xin phép giáo hội để trở lại Đông Nam Á, thì bị khước từ. Tiếp theo đó Alexandro trôi dạt vào Iran cho đến một ngày đầu tháng 11-1660 thì chết ở Isfahan, thọ 69 tuổi, kết thúc một đời tu hành gian trá […]  (hết trích).
Hãy đi vào từng điểm
1/ Ăn cp công trình ca do Amaral và Barbosa để in thành “T Đin Vit-B-La” ca mình.
Do Amaral, người Bồ, truyền giáo ở Đàng Ngoài (miền Bắc) từ 1626-30 và từ 1631-38. Tiếng Việt của ông là tiếng miền Bắc. Ông mất vì đắm thuyền khi đang trên đường trở lại Đàng Ngoài vào năm 1645. Xem lối phiên âm tiếng Việt có phương pháp của ông, thì biết ông giỏi tiếng Việt. Ông dùng tiếng Bồ để phiên âm (lấy Nh tiếng Bồ để phiên âm vần Nhờ việt nam; X phiên âm vần Xờ), vì thế lối phiên âm gần với thứ tiếng Việt ngày nay. Nhưng khả năng nói và viết đến đâu thì không biết, một phần vì cuốn tự điển Việt-Bồ (Annamiticum-Lusitanium) của ông không còn. Trong lúc đó de Rhodes phiên âm theo lối tiếng Ý và Pháp (dùng Gn để phiên âm vần Nhờ; Sc để phiên âm vần X). Về sau, ông ngã theo lối phiên âm của Amaral và Barbosa.
Antonia Barbosa, cũng người Bồ, truyền giáo ở Đàng Ngoài từ 1636 tới 1642, giỏi tiếng Việt, cũng làm từ điển (giọng Bắc) Bồ-Việt (Lusitanium-Annamiticum), nhưng cũng đã thất lạc. Ông mất năm 1647 khi đang trên đường đi Goa.
Chúng ta biết sự có mặt hai cuốn tự điển đó, nhờ de Rhodes ghi lại trong sách ông như sau: “Tôi lợi dụng công việc của các giáo sĩ khác cũng thuộc dòng Tên, nhất là của Gasparo do Amiral và Antonio Barbosa. Cả hai ông này, mỗi ông đều làm một cuốn tự điển. Ông Gasparo do Amaral làm cuốn Annamiticum-Lusitanum; ông Antonia Barbosa làm cuốn Lusitanum-Annamiticum. Nhưng tiếc rằng, hai ông đều chết sớm. Tôi lợi dụng công việc của cả hai ông viết ra cuốn tự điển mới, có chua thêm tiếng La tinh, mục đích để giúp người bản xứ học tiếng La tinh theo lệnh của các đức hồng y”.
Alexande de Rhodes truyền giáo ban đầu ở Đàng Trong (1624-26, sau ra Đàng Ngoài (1627-30) rồi lại vào Đàng Trong (1640-45). Tiếng Việt của ông là tiếng miền Trung. Tự điển Việt-Bồ-La của ông (xuất bản tại Roma 1651) đúng ra phải gọi là tự điển Đàng Trong-Bồ-La, vì những từ ông dùng chủ yếu là tiếng miền Trung, tuy có chua thêm từ miền Bắc. Sách Giáo lí của ông cũng là tiếng miền Trung.
Ông Hường “nghiên cứu” de Rhodes mà chẳng đọc sách của de Rhodes, nên chửi bậy. Vì không biết đến nơi đến chốn, nên ông cũng chẳng hiểu hai cuốn tự điển của Amaral và Barbosa mang tên gì. Ông bảo, ông đi Ma Cao tìm hai tự điển này, nhưng không thấy. Làm sao thấy được, khi hai sách này có thể đã được hai ông uỷ cho de Rhodes mang về Roma, vì từ tháng 7 tới tháng 12/1645, nghĩa là trước ngày de Rhodes lên đường về lại Roma, cả ba tu sĩ này cùng có mặt trong Trường nhà dòng ở Ma Cao. Theo lệ của dòng Tên thời đó, khi chuyển thư hay tài liệu, người ta sao ra nhiều bản, gửi cho nhiều thuyền mang đi, để lỡ thuyền này đắm thì còn thuyền khác. Hai tự điển kia có thể cũng đã được sao ra để giữ lại. Nhưng toàn bộ thư khố dòng Tên đã được di chuyển từ Ma Cao sang Phi Luật Tân khoảng năm 1759-60 và sau đó nhà cầm quyền Tây Ban Nha đã tịch thu toàn bộ tài liệu thư khố này khoảng năm 1770 đem về Madrid. Mọi nhà nghiên cứu biết điều này. Người ta đi lục tài liệu ở Lissabon, Madrid hay Roma, chứ chẳng ai dở hơi tới Ma Cao. Nhân đây nói thêm: Cố GS. Thanh Lãng cho biết ở thư viện Vatican có hai cuốn tự điển do linh mục Philipê Bỉnh sao lục, nhưng không ghi tác giả, khi ông này làm việc ở Lissabon từ 1796 tới 1832. Đó là quyển Dictionarium Annamiticum-Lusitanum kí hiệu Borg Touch 23 dày 288 trang và Dictionarium Lusitanum-Annamiticum kí hiệu Touch 23 dày 324 trang. Có thể đây là hai tự điển thất lạc kia. Nhưng vì là sách sao lục và không có tác giả, nên không thể xác định.
2/ “li t ý ghép tên mình thêm ch “de” kch cm!”
Nghĩa là ông Hường muốn nói, Alexandre thêm chữ đệm “de” để người đời tưởng ông thuộc giai cấp quý tộc. Nếu quả thực ông Hường là giáo sư dạy Bordeaux, có sống và hiểu chút ít văn hoá pháp hoặc âu châu, thì ông tất phải hiểu rằng, chữ đệm “de” ở đây không có dính dáng gì tới tên quý tộc cả. Có lúc “de” là tên của quý tộc, mà nhiều lúc “de” chỉ là lối đặt để phân biệt nhiều người cùng tên mà thôi. Catarina de Sienna, Teresa de Calcutta… Có hàng trăm Catarina, hàng ngàn Teresa, nhưng đây chỉ muốn nói tới bà thánh Catarina (sinh) ở thành Sienna, Thánh Teresa (sống) ở thành phố Calcutta. Trước đây, giáo sư Roland Jacques người Pháp, cũng là một nhà nghiên cứu lịch sử chữ Quốc Ngữ, đã trả lời rõ ràng điểm này rồi. Mới đây, tôi hỏi GS. Schatz, thì ông cũng bảo “de” này chẳng phải tên quý tộc. Nghĩa là đối với người Âu châu, chẳng có vấn đề, nó chỉ “kệch cỡm” cho ông Hường mà thôi. Cũng nên nhớ, gốc de Rhodes là người Do Thái vốn ở vùng Calatayud, Tây Ban Nha; dòng họ nội mang tên de Rueda. Có lẽ vì những vụ xử dị giáo ở Tây-ba-nha, nên dòng họ này di cư sang Avignon khoảng năm 1492. Bố của Alexandre là ông Bernadin đã được nâng lên hàng quý tộc.
3/ “sai sót chết người trong cun Phép ging tám ngày”
Đọc ông Hường, thấy các từ ông dùng, biết ông không phải là Kitô hữu hoặc là Kitô hữu nhưng không có kiến thức gì về đạo mình. Dĩ nhiên, một người ngoài Kitô Giáo cũng có thể nói về Kitô Giáo, đôi lúc nói còn hay hơn một người Kitô giáo, với điều kiện người đó hiểu tới nơi tới chốn điều mình nói. Tôi không hiểu ông Hường muốn nói gì với câu “Thường lệ, lễ đạo theo chu trình 7 ngày hay một tuần lễ” và “Có lẽ vì sự hoang mang, bán tín bán nghi, không biết lễ chủ nhật nằm đầu tuần hay cuối tuần nên Rhodes sinh ý Phép giảng tám ngày”? Phải chăng, theo ông Hường, de Rhodes lẽ ra phải viết cuốn Phép Giảng 7 ngày thì mới đúng lệ đạo? Nhưng vì ông hoang mang giữa hai lối gọi tên các ngày trong tuần của Bồ và của Pháp, nên đã nhắm mắt liều mình viết một cuốn giáo lí dành cho 8 ngày! Nếu hiểu như vậy thì thật ngớ ngẩn. De Rhodes có thể đã viết một cuốn Phép giảng không chỉ 8, mà có thể 6 hay 10 ngày, tuỳ theo số lượng đề tài giáo lí ông dự trù.
4/ “Vì gian trá mà Giáo Hđã không cho phép de Rhodes tr lĐông Nam Á (sic) và cui cùng phi trôi dt sang Iran và chế đó”.
Thời đó chưa có địa danh “Đông Nam Á” ông Hường ạ; người ta gọi miền đó là Viễn Đông (Extrême Orient). Tại sao de Rhodes không trở lại Việt Nam?
De Rhodes bị trục xuất vĩnh viễn khỏi Đàng Trong năm 1645. Đàng Ngoài cũng không muốn nhận ông. Tại sao? Các chúa Trịnh và Nguyễn không muốn ông có mặt, đã đành. Các đồng nghiệp dòng Tên cũng sợ lối truyền giáo liều lĩnh và trấn át “lợi bất cập hại” của ông. Họ bảo ông làm ào ào, chỉ làm sao cho được việc trước mắt mà không nghĩ tới hiểm nguy có thể xẩy ra cho toàn dòng. Cũng vì thế mà từ 1630, sau khi rời Đàng Ngoài, ông phải ở lại Ma Cao đến năm 1640 mới quay trở lại Đàng Trong. Đàng Trong ra lệnh trục xuất các thừa sai dòng Tên nhiều lần, nhưng các ông cứ trốn ở lại. Nhưng năm 1645, ông không thể trốn ở lại được nữa, phải về lại Ma Cao.
Động lực chính thôi thúc các thừa sai thời đó đi giảng đạo, là vì cho rằng, ngoài Giáo Hội không có ơn cứu rỗi, thành ra phải hết mình làm sao đưa thật nhanh thật nhiều linh hồn vào Đạo để cứu họ. Đặc biệt nơi de Rhodes, mong ước cứu linh hồn và ước ao được phúc tử đạo là hai lực chi phối mọi suy nghĩ và hành động của ông. Thành ra tới bất cứ chỗ nào, gặp bất cứ ai, dù là ông hoàng, quan quyền, người cu-li nô lệ hay giáo sĩ các tôn giáo khác, ông cũng tìm cách bắt chuyện, nói về Thiên Chúa và khuyên nhủ, chiêu dụ họ vào Đạo. Vì thế có lần suýt nữa bị một nhóm Tin Lành ở Pháp ném xuống sông, vì cãi nhau về Đạo. Ông lo lắng nhẩm tính, nước Trung Hoa có 250 triệu dân, như vậy mỗi năm phải có tới 5 triệu linh hồn người Hoa chết sa hoả ngục. Mà đã chết rồi là hết cách cứu, mọi cầu nguyện cho hồn kẻ ngoại đều vô ích. Lòng ông như thiêu như đốt trước viễn tượng đó, mà đành phải bó tay, chẳng làm gì được!
Vì không thể trở lại Việt Nam, bề trên Tỉnh Dòng Nhật cử de Rhodes về lại Roma, để vận động giám mục sang thụ phong linh mục cho người bản xứ, hầu xây dựng một hàng giáo phẩm địa phương. Chuyến đi kéo dài ba năm rưỡi, từ cuối 1645 tới giữa 1649. Ở lại Roma 3 năm để vận động mà chẳng được gì cả, vì Giáo Tông lúc đó (In-nô-xen-xô X) sợ chính quyền Bồ, không dám quyết định; còn Bộ Truyền Giáo cũng mới thiết lập, chỉ có danh chứ chẳng có thừa sai nào để mà gửi đi. Các thừa sai lúc đó là người của các dòng. Còn việc truyền giáo thì đã được các giáo tông trước đó uỷ cho Tây-ba-nha và Bồ-đào-nha, mỗi nước phụ trách một nửa thế giới. Thời gian ở Roma, de Rhodes hoàn chỉnh và cho in cuốn Từ Điển và cuốn Giáo Lý, nhằm tạo thêm áp lực thúc Roma gửi Giám mục.
Thấy bế tắc, Tổng Quyền khuyên ông sang vận động ở Pháp, đồng thời cho biết, sau thời gian ở Pháp, ông sẽ đi truyền giáo ở Ba Tư. Ở Pháp thuận lợi hơn. Ở đây, người ta chọn được hai ứng viên giám mục (de la Motte và François Pallu) để Roma quyết định. Nhưng In-nô-xen-xô X vẫn không dám làm gì, vì Bồ chống. Bồ không chấp nhận người ngoại quốc và không do Bồ chỉ định. Trong lúc đó vua Bồ yêu cầu dòng Tên tìm cho tối thiểu 70 thừa sai, lần này không nhất thiết phải là người Bồ, để đưa đi Ấn Độ. Dòng chỉ có được 25 người, trong số đó không có tên de Rhodes, vì mọi nỗ lực của de Rhodes ở Roma đã không tránh được con mắt theo dõi của Bồ. Việc de Rhodes bị loại khỏi danh sách đi Viễn Đông lúc đó quả là một thảm kịch. Tổng Quyền dòng Tên bị sức ép rất mạnh, nhưng ông vẫn không thay đổi í kiến, vì những lí do sau:
Dĩ nhiên khi Bồ đã chống, thì không có cách nào khác sang Viễn Đông được, vì mọi thừa sai đi Viễn Đông lúc đó đều phải khởi hành từ Lissabon, do thuyền Bồ chở, đường bộ chưa có. Ngoài ra, lúc đó chỉ có de Rhodes là người duy nhất mang hi vọng có thể truyền đạo được cho người Ba Tư. Số là trên đường từ Ma Cao trở về Roma (ông đi thuyền tới Ấn Độ, sau đó đi đường bộ) ông có ngang qua Ba Tư, thấy các ông hoàng của Vương Quốc này, vốn theo đạo Islam, nhưng tỏ ra dễ dãi hơn các tiểu vương khác. Các ông hoàng Ba Tư cho phép dòng Tên ở đó tổ chức những buổi đối thoại liên tôn. Do đó Roma có ý định mở mặt trận truyền giáo ở đó và nuôi hi (ảo) vọng sẽ kéo được các ông hoàng hồi giáo vào Kitô Giáo một ngày không xa. De Rhodes cũng báo cho Tổng Quyền sự lạc quan đó của mình, thành ra, khi khuyên ông sang vận động tại Pháp, Tổng Quyền đồng thời cũng cho ông hay, nhiệm sở của ông sau đó sẽ là Isfahan. Thêm nữa, lúc đó nữ hoàng Ba Lan đã tặng một khoản tiền rất lớn, để dòng Tên mở giáo điểm truyền giáo tại Ba Tư, và Tổng Quyền đã hứa với nữ hoàng sẽ tiến hành việc này.
Vì thế, Ba Tư không phải là nơi lưu đày, mà chỉ là giải pháp ưu tiên hai của de Rhodes. Dù tình thế không cho phép sang lại Viễn Đông, trái tim ông vẫn hướng về đó. Và từ Ba Tư, ông nuôi ý định sẽ tìm một con đường bộ qua Viễn Đông, để tránh sự lệ thuộc vào bảo hộ Bồ, đây cũng là một mong muốn của Bộ Truyền Giáo lúc đó.
Sau một năm hành trình, ông tới thủ đô Isfahan tháng 11.1655, lúc đó đã 64 tuổi. Ông lao vào học tiếng Ba Tư, sau hai năm rưỡi đã giảng được. De Rhodes là người có khiếu ngôn ngữ hơn bình thường: ngoài tiếng Pháp mẹ đẻ và La Tinh, ông nói lưu loát tiếng Ý và Bồ, có thể hiểu tiếng Tây Ban Nha, sử dụng được tiếng Konkani (một vùng ở Ấn Độ), tiếng Nhật, tiếng Hoa, và dĩ nhiên cả lưu loát tiếng Việt.
Tháng 9.1660 ông có triệu chứng đau dạ dày. Một tháng sau, thêm chứng xuất huyết, có lẽ do ung thư dạ dày và ruột. Chiều tối mùng 5.11.1660, ở tuổi 67 (không phải tuổi thọ 69! như ông Hường ban cho ông) sau khi chịu các phép, ông kết thúc cuộc đời “như một ngọn nến leo lét dần”. Không trở lại được miền ao ước, nhưng ông cũng đã mãn nguyện, vì nỗ lực của mình đã kết quả: năm 1658 tân Giáo Tông A-lê-xăng-đrô VII đã phong giám mục cho de la Motte và Pallu để hai vị sang Viễn Đông.
Người công giáo Việt Nam mang ơn de Rhodes – dĩ nhiên cả các thừa sai khác nữa – về đạo Chúa. Dân tộc Việt Nam mang ơn de Rhodes và các thừa sai dòng Tên về Quốc Ngữ. Nhưng không vì thế mà ta có bổn phận phải bảo vệ hay nói tốt cho de Rhodes. Sự thật có sao thì cần được nói lên như thế.
Trong bài trước, khi bàn về khả năng khách quan và óc khoa học của người Việt, tôi có nhận xét: Với người Việt, làm khoa học hay làm văn hoá, trước hết đó là một cách thế để tuyên xưng hoặc giải toả tình cảm cá nhân. Bài của “GS.TS Phạm Văn Hường (ĐH Bordeaux)” trên đây là một thí dụ.
Augsburg, 13/06/2015
Phạm Hồng Lam
(Viện Nhân Quyền Việt Nam



Read more…

Bất chấp mưa gió người dân xã Thạch Bằng tiếp tục biểu tình sau thảm hoạ Formosa




CTV Danlambao - Như hôm qua chúng tôi đã đưa tin, vào khoảng 15 giờ ngày 30/03/2017, hàng trăm người dân đã biểu tình ôn hoà trước UBND xã Thạch Bằng, huyện Lộc Hà, Hà Tĩnh, yêu cầu nhà cầm quyền Cộng sản bồi thường những thiệt hại mà họ gánh chịu sau thảm hoạ Formosa.

Hôm nay, vào lúc 15 giờ ngày 31/03/2017 họ lại tiếp tục kéo đến trụ sở UB xã Thạch Bằng để biểu tình.

Được biết đây là ngày thứ 5 liên tiếp bà con đi biểu tình nhưng đã không được chính quyền địa phương tiếp đón, giải quyết. Như thường lệ, an ninh, mật vụ, côn đồ được huy động đông đảo đến để chia rẽ, phá rối cuộc biêủ tình ôn hoà và sẵn sàng ra tay đàn áp nếu thấy cần thiết.

Một người tham gia biểu tình cho biết: “hôm qua chủ tịch xã đã cho côn đồ đánh dân đến trọng thương”.

Cuộc biểu tình đòi công lý của người dân xã Thạch Bằng nói riêng và tỉnh Hà Tĩnh nói chung sẽ còn tiếp tục. Chúng tôi sẽ gửi đến quý độc giả những thông tin liên quan đến cuộc biểu tình của người dân Miền Trung.

31/3/2017

Read more…

Vì sao nhiều người trốn khỏi “thiên đường” xã hội chủ nghĩa



 Việt Nam luôn tự hào là một trong bốn quốc gia còn lại có thể chế chính trị theo chủ thuyết cộng sản. Trong đó cộng sản đảng nắm toàn quyền cai trị, dẫn dắt đất nước đi theo con đường xã hội chủ nghĩa. Nhà cầm quyền hy vọng sớm biến Việt Nam trở thành “thiên đường” để người dân nơi đó có cuộc sống ấm no. Để thực hiện ước mơ “thiên đường” xã hội chủ nghĩa, cộng sản đảng đã không ngừng mời các công ty, tập đoàn “nước lạ” đến làm ăn, kinh doanh sản xuất. Nhà nước cộng sản còn ưu ái giao đất đai, tài nguyên, biển đảo cho các công ty, tập đoàn “nước lạ” để mở rộng thị trường.

Chính sách ấy đã giúp phần tàn phá môi trường sống cũng như cướp đi công việc của hàng trăm ngàn người dân Việt Nam. Bởi khi thực hiện dự án, nhà cầm quyền thẳng tay cướp đất đai của nông dân để giải phóng mặt bằng giao cho chủ đầu tư đã khiến nông dân không còn đất để canh tác. Bên cạnh đó, biển Việt Nam còn là thiên đường để những công ty, tập đoàn công nghiệp nặng xả thải, cụ thể là công ty Gang thép Hưng Nghiệp, Formosa Hà Tĩnh. Formosa thoải mái xả hằng tấn chất thải độc hại ra biển dưới sự bảo vệ hết mình của tập đoàn cộng sản bằng hệ thống an ninh, công an. Formosa mặc nhiên giết chết biển 4 tỉnh miền Trung với cái giá 500 triệu USD.

Những lệnh cấm đánh bắt, khai thác thủy hải sản trên vùng biển Việt Nam được đưa ra từ người bạn vàng Trung cộng đã khiến ngư dân không còn ngư trường để sinh sống. Thêm những biến động về nền kinh tế thị trường định hướng xã hội chủ nghĩa cùng với những món nợ công mà người dân đang gồng mình để trả bằng những đồng thuế… Tất cả những điều ấy đã khiến “thiên đường” xã hội chủ nghĩa Việt Nam trở thành “nơi đáng trốn” nhất đối với những người dân nghèo. Họ đã mất ruộng, mất biển, mất việc, mất cả quyền làm người. Vì thế họ phải đi tìm nguồn sống ở một nơi mà họ chắc chắn sẽ không phải là “thiên đường xã nghĩa”. Và thế là họ tìm cách đi xuất khẩu lao động tại những quốc gia mà trước năm 1975 đã từng xem đất nước Việt Nam Cộng Hòa là hình mẫu để xây dựng đất nước.

Mới đây Bộ Lao động Thương binh và Xã hội của nhà nước cộng sản vừa chính thức công bố 58 quận, huyện thuộc 12 tỉnh, thành phố bị cấm xuất khẩu lao động tại Hàn Quốc. Theo đó, 12 tỉnh thành bị cấm đi xuất khẩu lao động tại Hàn Quốc 2017 như sau: Nghệ An (TP.Vinh, huyện Nghi Lộc, TX.Cửa Lò, Hưng Nguyên, Thanh Chương, Nam Đàn, Diễn Châu, Yên Thành, Quỳnh Lưu, Đô Lương, Tân Kỳ), Thanh Hóa (huyện Đông Sơn, Hoằng Hóa, Triệu Sơn, Nga Sơn), Hà Tĩnh (huyện Nghi Xuân, Cẩm Xuyên, Lộc Hà, Thạch Hà, Kỳ Anh, Can Lộc), Hà Nội (Thường Tín, Đông Anh, Ba Vì, Đan Phượng, Thạch Thất), Hải Dương (huyện Cẩm Giàng, Thanh Hà, TX.Chí Linh, TP.Hải Dương, Bình Giang, Thanh Miện, Tứ Kỳ), Thái Bình (huyện Vũ Thư, Kiến Xương, Tiền Hải, Thái Thụy), Nam Định (Xuân Trường, TP.Nam Định, Nam Trực, Giao Thủy, Hải Hậu), Bắc Ninh (huyện Lương Tài, Tiên Du, Quế Võ, Gia Bình, TP. Bắc Ninh), Quảng Bình (huyện Bố Trạch, TX. Ba Đồn, TP. Đồng Hới), Hưng Yên (Ân Thi, Khoái Châu, Kim Động), Bắc Giang (Lục Nam, Yên Dũng, Lạng Giang), Phú Thọ (TP. Việt Trì, Lâm Thao).

Nguyên nhân dẫn đến việc đưa ra quyết định cấm đối với 58 quận huyện tại Việt Nam xuất khẩu lao động sang Hàn Quốc là do tỷ lệ lao động sau khi hết hợp đồng trốn ở lại tiếp tục làm việc bất hợp pháp ngày một tăng. Kể từ sau chương trình cấp phép cho người lao động Việt Nam làm việc tại Hàn Quốc được ký kết và thực hiện từ tháng 8/2004. Việt Nam là một quốc gia đứng đầu về số lượng người lao động nước ngoài làm việc tại Hàn Quốc. Tuy nhiên trước tình trạng bỏ trốn sau khi hết hợp đồng lao động của người Việt, phía Hàn Quốc đã nhiều lần đưa ra những biện pháp hạn chế vấn nạn trên nhưng tình trạng vẫn không thay đổi. Đây là lần thứ 2 sau năm 2012, phía Hàn Quốc tạm dừng cấp phép cho người lao động Việt Nam làm việc tại Hàn Quốc.

Trên thực tế nhiều quốc gia như Nhật Bản, Malaysia, Indonesia, Thái Lan, Đài Loan, Ả Rập, Lào, Campuchia… đang hết sức đau đầu trước vấn nạn người lao động Việt Nam không chịu “trở về” nước sau khi hết hợp đồng làm việc.

Đi xuất khẩu lao động được xem là cứu cánh cho giấc mơ thoát nghèo của nhiều người dân Việt Nam, đặc biệt những người sống tại khu vực Bắc Trung bộ trở ra. Đa phần những người xuất khẩu lao động thường là lao động phổ thông. Họ chấp nhận xa gia đình, chia tay người thân trong thời gian dài để tha hương cầu thực nơi đất khách quê người. Họ mong ước có được việc làm để kiếm tiền giúp đỡ gia đình và hy vọng thoát khỏi cái nghèo đeo bám họ. Tuy nhiên mong ước đó đôi khi phải trả giá hàng chục triệu đồng khi đăng ký xuất khẩu lao động. Nhiều người còn rơi vào tình trạng khốn đốn vì đi vay mượn tiền để đăng ký hồ sơ nhưng lại bị lừa. Ấy là chưa kể đến những bất cập trong thủ tục, những phong bì lót tay cho cán bộ cấp phép để may mắn được đi xuất khẩu lao động.

Cuộc sống của họ nơi đất khách cũng chẳng mấy dễ chịu bởi công việc nặng nhọc mà họ đang làm. Họ gặp phải những khó khăn do bất đồng ngôn ngữ, do khác biệt văn hóa, do thời tiết thay đổi… Một số người thậm trí còn bị ngược đãi, bị hành hạ và khinh miệt chỉ vì họ là người Việt Nam. Nhưng đổi lại họ có tiền để gửi về giúp đỡ gia đình, họ tích cóp để mong sớm thoát cái cơ cực nơi quê nhà. Dù chấp nhận vất vả, tủi hổ khi làm việc tại quê người nhưng rồi thì hợp đồng cũng đến ngày hết hạn, họ phải trở về Việt Nam.

Nhưng nếu về thì làm gì, lấy gì để sống, để giúp đỡ gia đình, bởi nơi họ sống gần như không thể đem lại cho họ một công việc. Và thế là, họ trở thành những người nhập cư lao động bất hợp pháp, họ phải lẩn trốn chính quyền nước sở tại, họ tìm việc, bất cứ việc gì giúp họ có tiền… Một người trẻ đang đi xuất khẩu lao động tại Malaysia chia sẻ trên trang Facebook cá nhân rằng bạn ấy sẽ tìm đường trốn ở lại để tiếp tục làm việc sau khi kết thúc hợp đồng. Bạn trẻ ấy cho rằng: “Hà Tĩnh quê hương của mình đã chết theo biển từ khi xảy ra thảm họa môi trường biển do Formosa xả thải”. Bạn trẻ ấy còn đưa ra lời khuyên dành cho những người bạn của mình: “anh, chị cứ tham gia biểu tình chống Formosa, nếu bị đánh đập, bắt bớ nhiều lần thì cơ hội được tị nạn chính trị càng cao”. Quả thật “thiên đường” xã hội chủ nghĩa Việt Nam ngày càng trầm luân với những điều tồi tệ liên tiếp xảy đến đã khiến nhiều người bất chấp tất cả để tìm đường rời khỏi “thiên đường”.

Nguyễn Xuân Phúc, Thủ tướng cộng sản đi đến đâu cũng luôn mồm hô hào tỉnh thành này phải là đầu tàu kinh tế của cả nước, thành phố nọ phải là trung tâm công nghệ của khu vực. Nhưng thực tế “thiên đường” xã hội chủ nghĩa tại Việt Nam dưới sự cai trị của cộng sản đảng đã và đang làm cho vô số người dân luôn mong, luôn tìm đường để trốn, để thoát khỏi ách cai trị của nhà cầm quyền. Nhiều trường hợp bỏ trốn dù không liên quan đến xuất khẩu lao động, những trường hợp ấy có thể là những người trẻ đạt được những xuất học bổng du học. Hay những đảng viên cộng sản cấp cao như Trịnh Xuân Thanh, Vũ Đình Duy vì lo sợ bị thanh toán quyền lực trong nội bộ cộng sản đảng nên đã trốn ra nước ngoài. Và biết đâu trong đó có cả Thủ tướng cộng sản Nguyễn Xuân Phúc hay chủ tịch quốc hội cộng sản Nguyễn Thị Kim Ngân cũng đang ấp ủ khả năng lưu vong chính trị nếu chẳng may phe cánh của mình bị yếu thế.

1/4/2017

Read more…

Tuyên giáo thủ tiêu bằng chứng báo lề đảng nói sự thật về Mẹ Nấm - Nguyễn Ngọc Như Quỳnh



Trong thông tin về việc nhà cầm quyền CSVN phản đối Hoa Kỳ vinh danh blogger Nguyễn Ngọc Như Quỳnh, Báo Dân Trí đã đăng một đoạn giới thiệu blogger này như sau: “Từ năm 2009 đến năm 2016, bà Quỳnh đã bị bắt giữ nhiều lần do tham gia các hoạt động dân sự, đòi dân quyền, và biểu tình phản đối Trung Quốc chiếm biển đảo tại Biển Đông, phản đối Công ty Formosa trong vụ việc cá chết hàng loạt tại miền Trung. Bà là điều phối viên của Mạng lưới Blogger Việt Nam, thành viên của các tổ chức “Người Việt yêu nước” và “Tuyên bố công dân tự do”

Đoạn này đã bị Tuyên giáo ra lệnh đục bỏ.

Đây là bài báo nguyên thủy:


Đây là bài báo dưới cái kéo kèm theo cái búa đi kèm để sẵn trên đầu phóng viên và ban biên tập:


Dưới búa và liềm của đảng độc tài, sự thật "sống" trên truyền thông lề đảng được đúng một ngày.

Tuy nhiên sự thật vẫn sống và nguyên vẹn trên trang Danlambao với bài viết "Sau tuyên bố về Mẹ Nấm, Lê Hải Bình bị đá văng ra khỏi ghế phát ngôn" và bài này.

01.04.2017

Read more…

Chủ tịch nước Trần Đại Quang chữa cháy vụ Mẹ Nấm - Nguyễn Ngọc Như Quỳnh được vinh danh?















Sau khi phía Bộ Ngoại giao Việt Nam tuyên bố Hoa Kỳ đã có “hành động thiếu khách quan, không phù hợp và không có lợi cho việc phát triển quan hệ hai nước” trong việc vinh danh Mẹ Nấm, người phát ngôn Lê Hải Bình không còn là phát ngôn (1), Trần Đại Quang đã ngay lập tức gặp Đại sứ Hoa Kỳ là Ted Osius.

Xác suất cao thì đây không phải là một cuộc gặp gỡ đã dự trù trước, mà xảy ra vì hệ quả của tuyên bố từ Bộ Ngoại giao VN. Các báo lề đảng đã đồng loạt đăng tin.

Dĩ nhiên không có chi tiết nào liên quan đến sự kiện blogger Mẹ Nấm - Nguyễn Ngọc Như Quỳnh được đăng tải, nhưng rõ ràng cuộc gặp của Chủ tịch nước Trần Đại Quang - vốn khá yên lặng trong thời gian qua - với ông Đại sứ là một thông điệp chính trị muốn gửi ra bên ngoài về nỗ lực bắt tay giữa Chủ tịch nước Trần Đại Quang với Tổng thống Donald Trump.

Trong khi Lê Hải Bình tuyên bố về việc Hoa Kỳ vinh danh Mẹ Nấm là “không khách quan, không phù hợp và không có lợi cho việc phát triển quan hệ hai nước” thì Trần Đại Quang đã “khẳng định lãnh đạo Việt Nam sẵn sàng hợp tác với Tổng thống Donald Trump duy trì đà phát triển của quan hệ hai nước, thúc đẩy quan hệ Đối tác toàn diện Việt Nam - Hoa Kỳ.”

Ngược lại, Đại sứ Ted Osius cũng đã chuyển lời của Tổng thống Donald Trump cảm ơn Trần Đại Quang đã chúc mừng Tổng thống chính thức nhậm chức và khẳng định một lần nữa mong muốn của Tổng thống Trump là thúc đẩy hợp tác với Việt Nam trong các lĩnh vực kinh tế-thương mại, các vấn đề khu vực và quốc tế.

Rõ ràng là có chỉ dấu cho một nỗ lực bắt tay chính trị giữa Chủ tịch nước Trần Đại Quang và Tổng thống Donald Trump qua trung gian của Ted Osius ngay sau chuyện Mẹ Nấm được bà Melania Trump vinh danh (2).

Trước thềm Hội nghị Trung ương 5, có nhiều đồn đoán về những nỗ lực đấu đá nội bộ để "Nhất thể hóa Tổng Bí thư và Chủ tịch nước". Trần Đại Quang là người có lợi nhất và có nhiều triển vọng để trở thành ứng viên nổi trội cho xu hướng này.

Với tình trạng Nguyễn Phú Trọng điên cuồng đập chuột làm vỡ bình, ảnh hưởng đến sự nghiệp làm giàu của quá nhiều cán bộ, khuynh hướng ủng hộ bất cứ ai ngoài phe nhóm Nguyễn Phú Trọng đang gia tăng trong đảng.

Trần Đại Quang sẽ "quy hoạch" được thắng lợi lớn trong nội bộ đảng nếu được lòng Hoa Kỳ, cụ thể là những hỗ trợ chính trị từ Donald Trump.

Kế sách hay nhất của Trần Đại Quang có thể làm trong vai trò Chủ tịch nước là trả tự do vô điều kiện cho blogger Mẹ Nấm - Nguyễn Ngọc Như Quỳnh. Trần Đại Quang khó mà tạo được quan hệ tốt đẹp với Tổng thống Donald Trump khi mà một người được đích thân Phu nhân Tổng thống Hoa Kỳ vinh danh vẫn bị giam cầm trái phép.

31.03.2017

Read more…

Contact us